28 thg 5, 2008
24 thg 5, 2008
20 công trình kiến trúc Việt Nam tiêu biểu
Nhân kỷ niệm 60 năm thành lập, Hội Kiến trúc sư Việt Nam, thông qua hơn 70 đề cử từ các chi hội kiến trúc, các cơ quan nghiên cứu, tạp chí chuyên ngành kiến trúc... đã chọn ra 20 công trình kiến trúc tiêu biểu nhất Việt Nam thời kỳ đổi mới.
Hội đồng tuyển chọn gồm có 23 thành viên là các KTS, các họa sĩ, nhà sử học, nhà báo... có tên tuổi như KTS Hoàng Đạo Kính, KTS Nguyễn Trực Luyện, Chủ tịch Hội Kiến trúc sư Việt Nam Nguyễn Tấn Vạn, nhà sử học Dương Trung Quốc...
Một trong những tiêu chí quan trọng để đánh giá lựa chọn là các công trình phải đạt được giá trị nghệ thuật và kiến trúc, phù hợp với xu hướng hiện đại, tạo nên dấu ấn, làm thay đổi hình ảnh đô thị, cảnh quan môi trường sống. Ngoài ra, những công trình này còn phải gây ấn tượng trong sử dụng vật liệu, cải thiện đời sống vật chất, tinh thần...
Trong số những công trình lựa chọn, có những công trình đã giành được sự đồng thuận cao như khu đô thị mới Phú Mỹ Hưng, Nhà ga Hàng không Quốc tế Tân Sơn Nhất, khách sạn Daewoo, Nam Hải Resort, trụ sở Tập đoàn Dầu khí Quốc gia Việt Nam...
Hình ảnh 20 công trình và nhận xét, đánh giá của Hội đồng tuyển chọn:

Khu đô thị Linh Đàm là một khu nhà ở với nhiều thể loại, căn hộ cho tầng lớp bình dân và trung lưu, được quy hoạch đồng bộ với hệ thống hạ tầng kỹ thuật, tổ hợp dịch vụ sinh hoạt đi cùng, kiến trúc bố trí gần với cây xanh và mặt nước, tạo được nét kiến trúc sinh động cho vùng đất phía nam Hà Nội. Đây là mô hình kiến trúc đô thị đầu tiên và có tính tiên phong của Hà Nội trong việc tạo lập các khu ở mới hoàn chỉnh.
Phú Mỹ Hưng được phát triển theo mô hình đô thị dải và phân thành nhiều khu chức năng gắn kết hài hòa trong một tổng thể với cơ sở hạ tầng xã hội và kỹ thuật đồng bộ, hiện đại, đảm bảo mục tiêu phát triển đô thị bền vững. Hiện Phú Mỹ Hưng được xem là khu đô thị hiện đại và đẹp nhất Việt Nam với diện tích đất dành cho không gian công cộng, công viên cây xanh chiếm tỷ lệ cao.
Viet Nam - Singapore là một trong những khu công nghiệp hàng đầu quốc gia, mang đến cho nhà đầu tư một cơ sở hạ tầng có chất lượng trong một môi trường sản xuất an toàn và hiệu quả. Với diện tích 500 ha, đây là khu công nghiệp có quy hoạch đồng bộ, các công trình được xây dựng thống nhất.
Khu công nghiệp Mỹ Xuân A2 có kiến trúc đẹp và hiện đại, tạo ra một môi trường khu công nghiệp sạch. Trong quá trình xây dựng các hạng mục công trình, nhà đầu tư đã đưa ra hệ kết cấu không gian lớn, kết hợp thảm cỏ, cây xanh, màu sắc sinh động, tạo ấn tượng một khu công nghiệp như một khu dân dụng, đẹp và yên tĩnh.
Công trình Trung tâm Hội nghị Quốc tế tại Hà Nội gồm nhà họp, trung tâm báo chí và khách sạn do Việt Nam thiết kế, xây dựng và đầu tư. Đây là công trình có được quy hoạch hợp lý trong điều kiện đất đai chật hẹp, kiến trúc có phong cách hiện đại kết hợp nét truyền thống, hài hòa trong môi trường kiến trúc, cảnh quan khu Ba Đình.
Trung tâm Hội nghị Quốc gia lấy cảm hứng từ hình tượng những ngọn sóng. Ngôn ngữ kiến trúc giản dị, thống nhất trong đa dạng, thích ứng với môi trường và trật tự trong kết cấu. Giải pháp thiết kế theo xu hướng hiện đại, công năng và hình thức hài hòa, bố cục mạch lạc, sử dụng vật liệu đồng nhất, giản dị về mảng khối và đường nét.
Nhà ga Hàng không Quốc tế Tân Sơn Nhất tại TP HCM do Nhật Bản thiết kế và thi công. Đây là công trình sân bay đầu tiên được trang bị hệ thống điện tử hiện đại, nhiều tiện ích và thân thiện với hành khách.
Quán cafe Gió và Nước là một công trình có ý tưởng sáng tạo độc đáo, tạo hình giản dị và duyên dáng với những tìm tòi theo cả hướng dân tộc và hiện đại. Thành công của tác giả còn ở việc khai thác hiệu quả vật liệu địa phương và thể hiện khát vọng của mình về một kiến trúc sinh thái, tiết kiệm năng lượng.
Khách sạn Daewoo là tổ hợp văn phòng, khách sạn 5 sao đầu tiên của Hà Nội. Có thể nói đây là cụm công trình có hình thức kiến trúc đáng chú ý, biểu hiện một phương án thiết kế thành công về nhiều mặt, từ tổ chức mặt bằng, tạo khối đến các chi tiết kiến trúc và màu sắc công trình, nhất là tạo được không gian sinh động, hòa hợp với cảnh quan.
Furama Resort (Đà Nẵng) được coi là công trình tiên phong trong xu hướng xây dựng các khu nghỉ dưỡng tại Việt Nam. Ở đây, đâu đâu cũng cảm nhận được sự ấm cúng của kiến trúc mộc, nét độc đảo của nội thất với những ban công nhìn ra biển. Khu nghỉ còn được bao bọc bởi hệ thống cây xanh, những loài hoa quý, một khu vườn nhiệt đới và những bể bơi đẹp.
Toa nhà trung tâm Thương mại Dầu khí tọa lạc tại số 18 Láng Hạ (Hà Nội) được xây dựng cao 19 tầng và đưa vào sử dụng cuối năm 2007. Đây được coi là một công trình kiến trúc mới, hiện đại, bề thế, khang trang và đã tạo thành một điểm nhấn về kiến trúc xây dựng của thủ đô, đi đầu trong sử dụng vật liệu và ứng dụng ngôn ngữ kiến trúc hiện đại.
Cao ốc Saigon Metropolitan tại TP HCM gồm hai khối nhà 12 và 16 tầng, có khoảng lùi vừa đủ để không lấn án không gian quảng trường Công xã Paris và ảnh hưởng tới tầm nhìn từ ác trục đường. Công trình có một sự thỏa hiệp khéo léo, trong sự hòa hợp với những biểu tượng văn hóa của những giai đoạn lịch sử khác nhau của thành phố. Tòa nhà đã thỏa mãn những đòi hỏi nghiêm túc về nghệ thuật kiến trúc và không gian đô thị ở một khu vực nhạy cảm của TP HCM.
Tru sở UBND quận 10 TP HCM là công trình đột phá trong ngôn ngữ kiến trúc và quan niệm tổ chức không gian trụ sở công quyền Nhà nước, vượt ra khỏi sự sao chép trước đây. Công trình với những đường cong mềm mại của khối hình và một chiều cao vừa phải, đường nét kiến trúc giản đơn, chắc khỏe đã tạo được sự gần gũi với con người và là nét đặc trưng cần có của một trụ sở cơ quan chính quyền.
Đài tưởng niệm tỉnh Tuyên Quang được coi là công trình mang tính cách mạng trong ngôn ngữ biểu hiện, vượt ra khỏi hình dáng thường thấy của thể loại đài tưởng niệm để tìm đến sự cô đọng, khái quát có tính tư tưởng nghệ thuật, vừa hoành tráng vừa giàu chất thơ. Công trình tạo nhiều liên tưởng tới hình ảnh của một ngọn nấm khổng lồ, dáng dấp của cây đa cách mạng...
Khu du lịch Vinpearl Nha Trang được biết đến như một thiên đường của miền nhiệt đới. Ngoài hệ thống phòng ốc tiện nghi, sang trọng đạt tiêu chuẩn 5 sao, nơi đây còn tạo ra một khu vui chơi giải trí với những dịch vụ hoàn hảo. Khu nghỉ đã thu hút nhiều khách du lịch trong nước và quốc tế.
Nam Hải Resort tại Hội An đã nhận được giải thưởng công trình du lịch có thiết kế đẹp từ tạp chí Travel + Leisure của Mỹ . Đây được coi là khu nghỉ sang trọng với những ngôi biệt thự mô phỏng kiến trúc nhà rường của người Việt, với cảnh sống làng quê nhưng được cách tân khéo léo để phù hợp với những tiện nghi hiện đại. Việc sử dụng gỗ đen và sự cao cấp của các loại chất liệu trong các biệt thự được đánh giá cao.
Cầu Bãi Cháy (Quảng Ninh) không chỉ có ý nghĩa về mặt giao thông, mà còn đánh dấu những kỷ lục xây dựng mới của Việt Nam và thế giới. Với kết cấu xây văng một mặt phẳng và chiều dài nhịp chính 435 m, đây là cây cầu dây văng bê tông dự ứng lực một mặt phẳng dây đầu tiên được xây dựng tại Việt Nam và lập kỷ lục thế giới về chiều dài nhịp chính.
Cầu Mỹ Thuận không chỉ đem lại những giá trị thiết yếu về mặt giao thông và kinh tế mà còn đáp ứng lòng mong mỏi của người dân vùng đồng bằng sông Cửu Long. Bên cạnh đó, cầu còn là công trình xây dựng có giá trị kiến trúc nổi bật, mang một nét giá trị thẩm mỹ, thu hút rất nhiều khách du lịch từ mọi miền đất nước.
Tổ hợp khách sạn Saigon Tourist tại Ninh Chữ, Phú Quốc, Nha Trang, Mũi Né, Hạ Long, Quy Nhơn, Đồng Hới là tổ hợp khu du lịch đầy đủ tiện nghi. Các khách sạn của Saigon Tourist đều do người Việt Nam thiết kế và thi công đều đạt tiêu chuẩn từ 3 sao trở lên. Ngôn ngữ kiến trúc tốt, được đầu tư xây dựng đồng bộ kèm cơ sở hạ tầng của khu vực nên đã tạo được bước đột phá, thúc đẩy du lịch những vùng còn chậm phát triển.
Tổ hợp làng trẻ em SOS tại 12 tỉnh thành khắp toàn quốc là các công trình nhân đạo có ý nghĩa xã hội đặc biệt, được đầu tư, thiết kế, xây dựng theo lối kiến trúc mở. Các công trình ở đây có kiến trúc gần gũi với những ngôi nhà Việt duyên dáng được lợp mái dốc thân quen và ấm áp, tạo tiện nghi sống và học tập cho rất nhiều em nhỏ bị khiếm khuyết và có hoàn cảnh khó khăn.
Linh HươngẢnh: TT Truyền thông Kiến trúc - Hội KTS VN
Hội đồng tuyển chọn gồm có 23 thành viên là các KTS, các họa sĩ, nhà sử học, nhà báo... có tên tuổi như KTS Hoàng Đạo Kính, KTS Nguyễn Trực Luyện, Chủ tịch Hội Kiến trúc sư Việt Nam Nguyễn Tấn Vạn, nhà sử học Dương Trung Quốc...
Một trong những tiêu chí quan trọng để đánh giá lựa chọn là các công trình phải đạt được giá trị nghệ thuật và kiến trúc, phù hợp với xu hướng hiện đại, tạo nên dấu ấn, làm thay đổi hình ảnh đô thị, cảnh quan môi trường sống. Ngoài ra, những công trình này còn phải gây ấn tượng trong sử dụng vật liệu, cải thiện đời sống vật chất, tinh thần...
Trong số những công trình lựa chọn, có những công trình đã giành được sự đồng thuận cao như khu đô thị mới Phú Mỹ Hưng, Nhà ga Hàng không Quốc tế Tân Sơn Nhất, khách sạn Daewoo, Nam Hải Resort, trụ sở Tập đoàn Dầu khí Quốc gia Việt Nam...
Hình ảnh 20 công trình và nhận xét, đánh giá của Hội đồng tuyển chọn:

Khu đô thị Linh Đàm là một khu nhà ở với nhiều thể loại, căn hộ cho tầng lớp bình dân và trung lưu, được quy hoạch đồng bộ với hệ thống hạ tầng kỹ thuật, tổ hợp dịch vụ sinh hoạt đi cùng, kiến trúc bố trí gần với cây xanh và mặt nước, tạo được nét kiến trúc sinh động cho vùng đất phía nam Hà Nội. Đây là mô hình kiến trúc đô thị đầu tiên và có tính tiên phong của Hà Nội trong việc tạo lập các khu ở mới hoàn chỉnh.

Phú Mỹ Hưng được phát triển theo mô hình đô thị dải và phân thành nhiều khu chức năng gắn kết hài hòa trong một tổng thể với cơ sở hạ tầng xã hội và kỹ thuật đồng bộ, hiện đại, đảm bảo mục tiêu phát triển đô thị bền vững. Hiện Phú Mỹ Hưng được xem là khu đô thị hiện đại và đẹp nhất Việt Nam với diện tích đất dành cho không gian công cộng, công viên cây xanh chiếm tỷ lệ cao.

Viet Nam - Singapore là một trong những khu công nghiệp hàng đầu quốc gia, mang đến cho nhà đầu tư một cơ sở hạ tầng có chất lượng trong một môi trường sản xuất an toàn và hiệu quả. Với diện tích 500 ha, đây là khu công nghiệp có quy hoạch đồng bộ, các công trình được xây dựng thống nhất.

Khu công nghiệp Mỹ Xuân A2 có kiến trúc đẹp và hiện đại, tạo ra một môi trường khu công nghiệp sạch. Trong quá trình xây dựng các hạng mục công trình, nhà đầu tư đã đưa ra hệ kết cấu không gian lớn, kết hợp thảm cỏ, cây xanh, màu sắc sinh động, tạo ấn tượng một khu công nghiệp như một khu dân dụng, đẹp và yên tĩnh.

Công trình Trung tâm Hội nghị Quốc tế tại Hà Nội gồm nhà họp, trung tâm báo chí và khách sạn do Việt Nam thiết kế, xây dựng và đầu tư. Đây là công trình có được quy hoạch hợp lý trong điều kiện đất đai chật hẹp, kiến trúc có phong cách hiện đại kết hợp nét truyền thống, hài hòa trong môi trường kiến trúc, cảnh quan khu Ba Đình.

Trung tâm Hội nghị Quốc gia lấy cảm hứng từ hình tượng những ngọn sóng. Ngôn ngữ kiến trúc giản dị, thống nhất trong đa dạng, thích ứng với môi trường và trật tự trong kết cấu. Giải pháp thiết kế theo xu hướng hiện đại, công năng và hình thức hài hòa, bố cục mạch lạc, sử dụng vật liệu đồng nhất, giản dị về mảng khối và đường nét.

Nhà ga Hàng không Quốc tế Tân Sơn Nhất tại TP HCM do Nhật Bản thiết kế và thi công. Đây là công trình sân bay đầu tiên được trang bị hệ thống điện tử hiện đại, nhiều tiện ích và thân thiện với hành khách.

Quán cafe Gió và Nước là một công trình có ý tưởng sáng tạo độc đáo, tạo hình giản dị và duyên dáng với những tìm tòi theo cả hướng dân tộc và hiện đại. Thành công của tác giả còn ở việc khai thác hiệu quả vật liệu địa phương và thể hiện khát vọng của mình về một kiến trúc sinh thái, tiết kiệm năng lượng.

Khách sạn Daewoo là tổ hợp văn phòng, khách sạn 5 sao đầu tiên của Hà Nội. Có thể nói đây là cụm công trình có hình thức kiến trúc đáng chú ý, biểu hiện một phương án thiết kế thành công về nhiều mặt, từ tổ chức mặt bằng, tạo khối đến các chi tiết kiến trúc và màu sắc công trình, nhất là tạo được không gian sinh động, hòa hợp với cảnh quan.

Furama Resort (Đà Nẵng) được coi là công trình tiên phong trong xu hướng xây dựng các khu nghỉ dưỡng tại Việt Nam. Ở đây, đâu đâu cũng cảm nhận được sự ấm cúng của kiến trúc mộc, nét độc đảo của nội thất với những ban công nhìn ra biển. Khu nghỉ còn được bao bọc bởi hệ thống cây xanh, những loài hoa quý, một khu vườn nhiệt đới và những bể bơi đẹp.

Toa nhà trung tâm Thương mại Dầu khí tọa lạc tại số 18 Láng Hạ (Hà Nội) được xây dựng cao 19 tầng và đưa vào sử dụng cuối năm 2007. Đây được coi là một công trình kiến trúc mới, hiện đại, bề thế, khang trang và đã tạo thành một điểm nhấn về kiến trúc xây dựng của thủ đô, đi đầu trong sử dụng vật liệu và ứng dụng ngôn ngữ kiến trúc hiện đại.

Cao ốc Saigon Metropolitan tại TP HCM gồm hai khối nhà 12 và 16 tầng, có khoảng lùi vừa đủ để không lấn án không gian quảng trường Công xã Paris và ảnh hưởng tới tầm nhìn từ ác trục đường. Công trình có một sự thỏa hiệp khéo léo, trong sự hòa hợp với những biểu tượng văn hóa của những giai đoạn lịch sử khác nhau của thành phố. Tòa nhà đã thỏa mãn những đòi hỏi nghiêm túc về nghệ thuật kiến trúc và không gian đô thị ở một khu vực nhạy cảm của TP HCM.

Tru sở UBND quận 10 TP HCM là công trình đột phá trong ngôn ngữ kiến trúc và quan niệm tổ chức không gian trụ sở công quyền Nhà nước, vượt ra khỏi sự sao chép trước đây. Công trình với những đường cong mềm mại của khối hình và một chiều cao vừa phải, đường nét kiến trúc giản đơn, chắc khỏe đã tạo được sự gần gũi với con người và là nét đặc trưng cần có của một trụ sở cơ quan chính quyền.

Đài tưởng niệm tỉnh Tuyên Quang được coi là công trình mang tính cách mạng trong ngôn ngữ biểu hiện, vượt ra khỏi hình dáng thường thấy của thể loại đài tưởng niệm để tìm đến sự cô đọng, khái quát có tính tư tưởng nghệ thuật, vừa hoành tráng vừa giàu chất thơ. Công trình tạo nhiều liên tưởng tới hình ảnh của một ngọn nấm khổng lồ, dáng dấp của cây đa cách mạng...

Khu du lịch Vinpearl Nha Trang được biết đến như một thiên đường của miền nhiệt đới. Ngoài hệ thống phòng ốc tiện nghi, sang trọng đạt tiêu chuẩn 5 sao, nơi đây còn tạo ra một khu vui chơi giải trí với những dịch vụ hoàn hảo. Khu nghỉ đã thu hút nhiều khách du lịch trong nước và quốc tế.

Nam Hải Resort tại Hội An đã nhận được giải thưởng công trình du lịch có thiết kế đẹp từ tạp chí Travel + Leisure của Mỹ . Đây được coi là khu nghỉ sang trọng với những ngôi biệt thự mô phỏng kiến trúc nhà rường của người Việt, với cảnh sống làng quê nhưng được cách tân khéo léo để phù hợp với những tiện nghi hiện đại. Việc sử dụng gỗ đen và sự cao cấp của các loại chất liệu trong các biệt thự được đánh giá cao.

Cầu Bãi Cháy (Quảng Ninh) không chỉ có ý nghĩa về mặt giao thông, mà còn đánh dấu những kỷ lục xây dựng mới của Việt Nam và thế giới. Với kết cấu xây văng một mặt phẳng và chiều dài nhịp chính 435 m, đây là cây cầu dây văng bê tông dự ứng lực một mặt phẳng dây đầu tiên được xây dựng tại Việt Nam và lập kỷ lục thế giới về chiều dài nhịp chính.

Cầu Mỹ Thuận không chỉ đem lại những giá trị thiết yếu về mặt giao thông và kinh tế mà còn đáp ứng lòng mong mỏi của người dân vùng đồng bằng sông Cửu Long. Bên cạnh đó, cầu còn là công trình xây dựng có giá trị kiến trúc nổi bật, mang một nét giá trị thẩm mỹ, thu hút rất nhiều khách du lịch từ mọi miền đất nước.

Tổ hợp khách sạn Saigon Tourist tại Ninh Chữ, Phú Quốc, Nha Trang, Mũi Né, Hạ Long, Quy Nhơn, Đồng Hới là tổ hợp khu du lịch đầy đủ tiện nghi. Các khách sạn của Saigon Tourist đều do người Việt Nam thiết kế và thi công đều đạt tiêu chuẩn từ 3 sao trở lên. Ngôn ngữ kiến trúc tốt, được đầu tư xây dựng đồng bộ kèm cơ sở hạ tầng của khu vực nên đã tạo được bước đột phá, thúc đẩy du lịch những vùng còn chậm phát triển.

Tổ hợp làng trẻ em SOS tại 12 tỉnh thành khắp toàn quốc là các công trình nhân đạo có ý nghĩa xã hội đặc biệt, được đầu tư, thiết kế, xây dựng theo lối kiến trúc mở. Các công trình ở đây có kiến trúc gần gũi với những ngôi nhà Việt duyên dáng được lợp mái dốc thân quen và ấm áp, tạo tiện nghi sống và học tập cho rất nhiều em nhỏ bị khiếm khuyết và có hoàn cảnh khó khăn.
Linh HươngẢnh: TT Truyền thông Kiến trúc - Hội KTS VN
"Nobel kiến trúc" cho "phù thủy ánh sáng" Jean Nouvel
Giải thưởng kiến trúc Pritzker 2008, được ví như giải Nobel cho lĩnh vực kiến trúc, đã được trao cho kiến trúc sư Jean Nouvel của Pháp.
Thomas J. Pritzker, chủ tịch Quĩ Hyatt (trụ sở tại Los Angeles, Mỹ) sáng lập giải thưởng tồn tại đã 30 năm này, nhận định rằng ban giám khảo đã đánh giá cao sự tìm kiếm dũng cảm những ý tưởng mới và khát vọng mở rộng những chân trời kiến trúc của Jean Nouvel, trong đó nổi bật là "trí tưởng tượng, sự kiên trì, hoa mỹ, và trên tất cả, sự thôi thúc gần như không biết thỏa mãn của tinh thần thí nghiệm sáng tạo", theo AFP.
"Thầy phù thủy" ánh sáng
Jean Nouvel từng được ví như "phù thủy ánh sáng" trong kiến trúc. Tài năng của ông được thể hiện qua hơn 200 công trình tầm cỡ và một trong những công trình nổi tiếng nhất của ông được hầu hết hãng truyền thông nhắc đến khi đưa tin về giải thưởng là tòa nhà Viện Nghiên cứu thế giới Ả Rập (IMA) ở Paris.
Những năm 1980, tổng thống Pháp khi đó là Franois Mitterrand đã giao Jean Nouvel thiết kế xây dựng IMA, bao gồm viện bảo tàng, một thư viện, nhiều khoảng trống cho các triển lãm và các gian cho trẻ em, một trung tâm tư liệu, thính phòng và nhà hàng trên đỉnh. Và tổng thống Pháp đã không chọn sai "mặt" để "gửi vàng". Tòa nhà được khen ngợi bởi cách sử dụng ánh sáng thông minh. Mặt phía nam của tòa nhà, một diện tích lên tới 2.000m2, được làm toàn bằng kính và màng ngăn kim loại điều khiển được, có thể đóng mở nhỏ lớn tùy theo lượng ánh sáng mà nội thất tòa nhà cần.
Ảnh: latimes.com
KTS Jean Nouvel (ảnh) sẽ được nhận giải thưởng trị giá 100.000 USD tại buổi lễ trang trọng ở Washington vào tháng sáu này. Ít ai biết Jean Nouvel trở thành kiến trúc sư từ một sai lầm. Khi còn trẻ, ông muốn học mỹ thuật và đã bắt đầu vẽ tranh.
Thế nhưng cha mẹ ông không chịu tài trợ, cho rằng họa sĩ là nghề quá mạo hiểm. Chàng sinh viên phải ghi danh vào một lĩnh vực có vẻ thực tiễn hơn là kiến trúc để có thể nhanh chóng trở lại trường hội họa. Thế nhưng ông đã không bao giờ quay trở lại. "Hóa ra đó là một sai lầm tốt", ông cười nhớ lại.
Tương tự, mái nhà của Trung tâm hội nghị và văn hóa Lucerne (Thụy Sĩ) trải dài qua khỏi tòa nhà, tới tận hồ nước của thành phố Lucerna, phản chiếu sự dịch chuyển của ánh sáng trên mặt nước.
Hay tại Musée du quai Branly, khai trương năm 2006 ở Paris và là nhà của các nền mỹ thuật bộ tộc từ các châu lục, ánh sáng cũng đóng vai trò không thể thiếu, được lọc từ một mặt tiền bằng kính màu xanh lá cây mô phỏng những rừng nhiệt đới. Còn ở mặt khác, kính đen chồng lên một tấm chắn kim loại khoét lỗ tạo nên hiệu ứng của ánh sáng nhấp nhô khi khách tham quan đi qua.
Chống "kiến trúc toàn cầu"
Nouvel quyết định chống lại điều mà ông cho là sự đồng nhất hóa của chủ nghĩa đô thị thế giới. Trong một trả lời trên tờ Los Angeles Times, ông trình bày quan điểm sáng tạo của mình: "Khi bạn đi quanh thế giới, bạn sẽ thấy những tòa nhà giống hệt nhau và cảm giác như chẳng đi đâu cả. Tôi luôn đấu tranh cho sự đặc thù của kiến trúc, chống lại kiến trúc toàn cầu".
Thế nhưng trong khi các kiến trúc sư khác nhắm vào sự nổi bật, Nouvel lại nói những tòa nhà do ông thiết kế không hề tách biệt khỏi nơi nó được bố trí. "Các kiến trúc sư hiện nay cố tạo ra một thế giới nhỏ (petit monde), một thế giới siêu nhỏ (micro monde). Nhưng điều quan trọng lại là dựng lên một tòa nhà trong bối cảnh của chính nó”. Và ông còn nhấn mạnh mỗi tòa nhà đó phải là "một ô không thể thiếu trong trò chơi ghép hình, cũng không thể đặt tòa nhà đó ở một nơi chốn khác".
Nhà kiến trúc kể việc tạo hình và xây dựng mỗi tòa nhà với ông như một cuộc mạo hiểm. Ông nghiên cứu cẩn thận từng đề án, nói chuyện với rất nhiều người. Mỗi tòa nhà của ông đều có mối liên hệ với khí hậu, nắng và gió, với màu của những tòa nhà chung quanh nó. "Tôi chỉ đi đến quyết định khi có đủ tất cả các thông số tại chỗ. Khi đã có tất cả các sự kiềm chế đó, tôi mới bắt đầu. Không có sự thúc ép, kiến trúc không tồn tại".
TRẦN ĐỨC THÀNH (Theo LA Times, CS Monitor, AFP)
Thomas J. Pritzker, chủ tịch Quĩ Hyatt (trụ sở tại Los Angeles, Mỹ) sáng lập giải thưởng tồn tại đã 30 năm này, nhận định rằng ban giám khảo đã đánh giá cao sự tìm kiếm dũng cảm những ý tưởng mới và khát vọng mở rộng những chân trời kiến trúc của Jean Nouvel, trong đó nổi bật là "trí tưởng tượng, sự kiên trì, hoa mỹ, và trên tất cả, sự thôi thúc gần như không biết thỏa mãn của tinh thần thí nghiệm sáng tạo", theo AFP.
"Thầy phù thủy" ánh sáng
Jean Nouvel từng được ví như "phù thủy ánh sáng" trong kiến trúc. Tài năng của ông được thể hiện qua hơn 200 công trình tầm cỡ và một trong những công trình nổi tiếng nhất của ông được hầu hết hãng truyền thông nhắc đến khi đưa tin về giải thưởng là tòa nhà Viện Nghiên cứu thế giới Ả Rập (IMA) ở Paris.
Những năm 1980, tổng thống Pháp khi đó là Franois Mitterrand đã giao Jean Nouvel thiết kế xây dựng IMA, bao gồm viện bảo tàng, một thư viện, nhiều khoảng trống cho các triển lãm và các gian cho trẻ em, một trung tâm tư liệu, thính phòng và nhà hàng trên đỉnh. Và tổng thống Pháp đã không chọn sai "mặt" để "gửi vàng". Tòa nhà được khen ngợi bởi cách sử dụng ánh sáng thông minh. Mặt phía nam của tòa nhà, một diện tích lên tới 2.000m2, được làm toàn bằng kính và màng ngăn kim loại điều khiển được, có thể đóng mở nhỏ lớn tùy theo lượng ánh sáng mà nội thất tòa nhà cần.
Ảnh: latimes.com
KTS Jean Nouvel (ảnh) sẽ được nhận giải thưởng trị giá 100.000 USD tại buổi lễ trang trọng ở Washington vào tháng sáu này. Ít ai biết Jean Nouvel trở thành kiến trúc sư từ một sai lầm. Khi còn trẻ, ông muốn học mỹ thuật và đã bắt đầu vẽ tranh.
Thế nhưng cha mẹ ông không chịu tài trợ, cho rằng họa sĩ là nghề quá mạo hiểm. Chàng sinh viên phải ghi danh vào một lĩnh vực có vẻ thực tiễn hơn là kiến trúc để có thể nhanh chóng trở lại trường hội họa. Thế nhưng ông đã không bao giờ quay trở lại. "Hóa ra đó là một sai lầm tốt", ông cười nhớ lại.
Tương tự, mái nhà của Trung tâm hội nghị và văn hóa Lucerne (Thụy Sĩ) trải dài qua khỏi tòa nhà, tới tận hồ nước của thành phố Lucerna, phản chiếu sự dịch chuyển của ánh sáng trên mặt nước.
Hay tại Musée du quai Branly, khai trương năm 2006 ở Paris và là nhà của các nền mỹ thuật bộ tộc từ các châu lục, ánh sáng cũng đóng vai trò không thể thiếu, được lọc từ một mặt tiền bằng kính màu xanh lá cây mô phỏng những rừng nhiệt đới. Còn ở mặt khác, kính đen chồng lên một tấm chắn kim loại khoét lỗ tạo nên hiệu ứng của ánh sáng nhấp nhô khi khách tham quan đi qua.
Chống "kiến trúc toàn cầu"
Nouvel quyết định chống lại điều mà ông cho là sự đồng nhất hóa của chủ nghĩa đô thị thế giới. Trong một trả lời trên tờ Los Angeles Times, ông trình bày quan điểm sáng tạo của mình: "Khi bạn đi quanh thế giới, bạn sẽ thấy những tòa nhà giống hệt nhau và cảm giác như chẳng đi đâu cả. Tôi luôn đấu tranh cho sự đặc thù của kiến trúc, chống lại kiến trúc toàn cầu".
Thế nhưng trong khi các kiến trúc sư khác nhắm vào sự nổi bật, Nouvel lại nói những tòa nhà do ông thiết kế không hề tách biệt khỏi nơi nó được bố trí. "Các kiến trúc sư hiện nay cố tạo ra một thế giới nhỏ (petit monde), một thế giới siêu nhỏ (micro monde). Nhưng điều quan trọng lại là dựng lên một tòa nhà trong bối cảnh của chính nó”. Và ông còn nhấn mạnh mỗi tòa nhà đó phải là "một ô không thể thiếu trong trò chơi ghép hình, cũng không thể đặt tòa nhà đó ở một nơi chốn khác".
Nhà kiến trúc kể việc tạo hình và xây dựng mỗi tòa nhà với ông như một cuộc mạo hiểm. Ông nghiên cứu cẩn thận từng đề án, nói chuyện với rất nhiều người. Mỗi tòa nhà của ông đều có mối liên hệ với khí hậu, nắng và gió, với màu của những tòa nhà chung quanh nó. "Tôi chỉ đi đến quyết định khi có đủ tất cả các thông số tại chỗ. Khi đã có tất cả các sự kiềm chế đó, tôi mới bắt đầu. Không có sự thúc ép, kiến trúc không tồn tại".
TRẦN ĐỨC THÀNH (Theo LA Times, CS Monitor, AFP)
"THÀNH PHỐ CỦA NGHỆ THUẬT ĐƯƠNG ĐẠI
Nhiều người đã quan tâm và muốn biết nội dung Dự án phát triển Đà Nẵng thành một "Thành phố của Nghệ thuật Đương đại ASEAN", do RiverVietnam đề xuất và đang vận động thực hiện. Để mọi người có thể tham gia góp ý và góp sức, RiverVietnam xin giới thiệu sơ lược về dự án này:.
Tác phẩm của Điêu khắc gia Lê Công Thành vừa được dựng ở Đà Nẵng ngày 01 tháng 7-2007
một tín hiệu mới về "một cách nhìn mới" đối với nghệ thuật ở Đà Nẵng
I. Tại sao Đà Nẵng nên phát triển thành một "Thành phố của Nghệ thuật Đương đại ASEAN"?
- Nên, vì cần: Đà Nẵng là thành phố mới. Nó cần phải xây dựng cho mình một bản sắc, một truyền thống mới. Lựa chọn chiến lược phát triển thành một "Thành phố của Nghệ thuật Đương đại ASEAN", sẽ có tác dụng lớn đến đời sống văn hóa xã hội và thúc đẩy phát triển kinh tế du lịch...
- Nên, vì có thể: Một, Đà Nẵng có cơ sở hạ tầng phát triển tốt, đất còn rộng và đang trên đà xây dựng theo hướng hiện đại hóa. Hai, trình độ dân trí với tính cách thị dân phát triển tương đối cao. Ba, có môi trường tự nhiên, từ khí hậu đến cảnh quan thiên nhiên... tương đối tốt; có vị trí và điều kiện địa lý thuận lợi cho các họat động giao lưu... Bốn, không phải mang quá nhiều gánh nặng "truyền thống"-sự "nghèo nàn về bản sắc, về truyền thống" chính là cơ hội và là cơ may cho Đà Nẵng... v.v...

II. Làm gì để Đà Nẵng thực sự trở thành một "Thành phố của Nghệ thuật Đương đại"?
a. Về nguyên tắc: Đà Nẵng chỉ có thể trở thành một "Thành phố của Nghệ thuật Đương đại ASEAN", khi mà ở đó, có những không gian dành cho nghệ thuật đương đại, có những thiết chế bảo trợ và dung dưỡng nghệ sĩ, và cuối cùng, là có một tầng lớp công chúng rộng rãi yêu thích và am hiểu nghệ thuật.
b. Về biện pháp: Phải có một chương trình hành động thực tế. Trọng tâm của chương trình này, là phải xây dựng một "Bảo tàng Nghệ thuật Đương đại Asean", một "Làng Nghệ sĩ Asean", và, tổ chức sự kiện nghệ thuật quốc tế 2 năm 1 lần-"Danang Biennale".
- "Bảo tàng Nghệ thuật Đương đại Asean" là cái chưa có ở đâu. Việc xây dựng bảo tàng này, sẽ thu hút được sự chú ý và ủng hộ của giới nghệ sĩ và chính quyền ở các nước trong khu vực. Sẽ biến Đà Nẵng không chỉ trở thành trung tâm của nghệ thuật đương đại Việt Nam mà còn của cả khu vực Asean. Điều này sẽ có ý nghĩa rất lớn và thiết thực trong việc nâng cao vị thế và hình ảnh thành phố Đà Nẵng trên trường quốc tế; sẽ có tác dụng thu hút du khách đến từ mọi nơi, tạo công ăn việc làm cho dân địa phương...
- "Làng Nghệ sĩ Asean"-như một trại sáng tác thường xuyên-sẽ là bộ phận sản xuất và cung ứng tác phẩm cho "Bảo tàng Nghệ thuật Đương đại Asean" (Lưu ý: xây dựng bảo tàng là việc "dễ", lấy gì đặt ở bảo tàng mới là việc "khó". Xây dựng "Làng Nghệ sĩ Asean" là để giải quyết vấn đề "khó" này một cách dễ nhất và ít tốn kém nhất). Ngòai ra, họat động của "Làng" này, nếu khéo tổ chức, sẽ là những sự kiện văn hóa du lịch hấp dẫn
- Tổ chức sự kiện nghệ thuật quốc tế "Danang Biennale", là cách hấp dẫn nhất, dễ nhất, nhanh nhất và ít tốn kém nhất để lôi kéo du khách, để đẩy nhanh việc quảng bá "thương hiệu" Đà Nẵng, và dĩ nhiên, kéo theo là sự phát triển cơ sở hạ tầng văn hóa và du lịch địa phương...
III. Làm thế nào để dự án này trở thành hiện thực?
Về nguyên tắc: Trước hết, đó phải là quyết tâm của chính quyền, và tiếp theo, phải trở thành quyết tâm của nhân dân thành phố-đặc biệt là của tầng lớp trí thức, nhân sĩ, doanh gia... Thứ hai, phải thu hút được sự chú ý, ủng hộ của các thành phần có liên quan (giới nghệ sĩ, các nhà tổ chức trong lãnh vực nghệ thuật, các nhà đầu tư, các nhà tài trợ v.v...) ở cấp quốc gia và quốc tế. Cuối cùng, cơ bản hơn hết, là phải có một chiến lược với các bước đi chiến thuật chính xác, thể hiện trong một chương trình với những công việc cụ thể-gối đầu lên nhau, thúc đẩy lẫn nhau: từ nhỏ đến lớn, từ dễ đến khó v.v...
Về biện pháp: Cần tiến hành ngay, đồng thời, 3 phần việc:
- Một, hoàn chỉnh dự án, và truyền thông tốt mục đích, ý nghĩa dự án.
- Hai, chuẩn bị cơ sở hạ tầng và tổ chức bộ máy để triển khai dự án.
- Ba, tổ chức các sự kiện nhỏ để thúc đẩy - một mặt, để truyền thông về dự án, để chứng minh cho sự cần thiết và tính khả thi của dự án; mặt khác, qua đó mà tập hợp lực lượng, mà tạo dựng quan hệ các mặt v.v… cho việc tổ chức các sự kiện tiếp theo triển khai dự án… (Lưu ý: Trại sáng tác và triển lãm mỹ thuật “Không gian Asean” đang được triển khai thực hiện, cần được xem là một sự kiện nhỏ trong dự án tổng thể này. Có như vậy, thì mới nắm bắt và khai thác được hết hiệu quả sự kiện, và thực tế, có như vậy thì việc tổ chức sự kiện mới dễ dàng hơn…)
RiverVietnam
Những công trình ngoạn mục của kiến trúc đương đại
Những hình dáng đầy bất ngờ, những sự chối bỏ lối mòn và vượt qua các khuôn khổ cũ đầy cá tính...- đây xứng đáng là những công trình tiêu biểu cho kiến trúc của thế giới đương đại.
Trung tâm văn hóa Jean - Marie Tjibaou (New Caledonia, 1998)
Khu nhà này nằm trên một bán đảo nhỏ cách thủ đô Nouméa của New Caledonia 10km về phía Tây Bắc; Từ khi New Caledonia tách khỏi Pháp, kiến trúc sư Renzio Piano ngay lập tức bị ám ảnh bởi ý nghĩ sử dụng bản sắc của tộc người Kanak trong thiết kế trung tâm văn hóa này. Nó đã được yết danh trong số những công trình kiến trúc ngoạn mục nhất với diện tích 7650m2 và chi phí xây dựng là 200.000.000 FF.
Rành mạch trong việc chối bỏ tính châu Âu, dãy nhà gồm mười ngôi hình nón bằng gỗ này được nối với nhau qua những hành lang kính và gỗ, dàn trận trên diện tích rộng và được bao bọc bởi vườn tược. Khi xây dựng, người ta đã phải hết sức thận trọng để tôn trọng thiên nhiên và để công trình ẩn hiện trong môi trường của các loại thực vật địa phương. 10 khối nhà chia làm 3 nhóm bao gồm sảnh vào, phòng triển lãm, quán cà- phê, phòng triển lãm đa phương tiện, phòng chiếu phim và các phòng kính cho các khóa học về văn hóa bản địa. Những ngôi nhà này lượn cong những cái lưng óng ả bằng gỗ của nó về phía đại dương, để chống chọi với những cơn gió có thể tạo thành bão có sức gió trên 240km/h. Renzio Piano đã đưa ra sự diễn giải kiến trúc đương đại đầy tinh tế và bất ngờ khi thiết kế trung tâm này. Nhìn xa trông nó như những bẫy khổng lồ chờ đợi những chiến binh dại dột.
Rạp chiếu bóng UFA, Dresden, Đức (1996-1998)
Một khu nhà với hình dạng đầy bất ngờ, là kết quả của bê-tông và thủy tinh thể. Được xây dựng cho tổ chức nhà hát UFA với ngân sách rất hạn chế 12.000 DM/ghế ngồi, quần thể kiến trúc này bao gồm 8 sân khấu và có tổng cộng 2600 ghế. Với sự tương phản trong một phong cách ghi dấu ấn của kiến trúc Stalin, hình dạng lạ thường của ngôi nhà này mang lại sinh lực mới cho trung tâm thành phố Dresden của Đức. Ngôi nhà do nhóm kiến trúc sư nổi tiếng Coop Himmelb(L)au thiết kế, do Wolf Prix và Helmut Swiczinsky thành lập. 30 năm sau khi thành lập, hai kiến trúc sư này vẫn đang "oanh tạc" đất đai các thành phố trung tâm bằng những thiết kế hết sức khốc liệt, những cơ thể nhà khổng lồ và chật vật. Họ luôn tìm sự đồng nhất trong một phong cách đặc biệt được gọi là phong trào Deconstructivist. Theo lời Wolf Prix thì "ngôi nhà được thiết kế như một video-clip, gạt bỏ viễn cảnh tập trung". Chi phí: 32.000.000 DM. Diện tích: 2600m2.
Bảo tàng người Do Thái (Berlin, Đức, 1989-1999)
Bảo tàng này có một lịch sử dài và phức tạp. Dự án được khởi sự vào năm 1988 như một phân nhánh nhỏ của Bảo tàng Berlin. Kiến trúc sư Daniel Libeskind đã giành được giải nhất trong một cuộc tranh tài vào năm 1989. Sự đổ vỡ của Bức tường Berlin và quyết định chuyển thủ đô đã ảnh hưởng đến việc thực hiện dự án. Vượt ra khỏi khuôn khổ cũ, giám đốc bảo tàng, ông W. Micheal Blumenthal quyết định bao quát "toàn bộ lịch sử mối quan hệ giữa người Do Thái và những người không phải Do Thái từ thời La Mã tới nay". Rất nhiều tiết diện của khu nhà duy trì những khoảng trống cố ý, những vết cắt như để tượng trưng cho sự trống rỗng và thiếu vắng của những người Do Thái đã chết trong thảm họa tàn sát Holocaust. Ngôi nhà được xây dựng trên diện tích 9500m2 với chi phí 72.100.000 DM
Trung tâm văn hóa Jean - Marie Tjibaou (New Caledonia, 1998)
Khu nhà này nằm trên một bán đảo nhỏ cách thủ đô Nouméa của New Caledonia 10km về phía Tây Bắc; Từ khi New Caledonia tách khỏi Pháp, kiến trúc sư Renzio Piano ngay lập tức bị ám ảnh bởi ý nghĩ sử dụng bản sắc của tộc người Kanak trong thiết kế trung tâm văn hóa này. Nó đã được yết danh trong số những công trình kiến trúc ngoạn mục nhất với diện tích 7650m2 và chi phí xây dựng là 200.000.000 FF.
Rành mạch trong việc chối bỏ tính châu Âu, dãy nhà gồm mười ngôi hình nón bằng gỗ này được nối với nhau qua những hành lang kính và gỗ, dàn trận trên diện tích rộng và được bao bọc bởi vườn tược. Khi xây dựng, người ta đã phải hết sức thận trọng để tôn trọng thiên nhiên và để công trình ẩn hiện trong môi trường của các loại thực vật địa phương. 10 khối nhà chia làm 3 nhóm bao gồm sảnh vào, phòng triển lãm, quán cà- phê, phòng triển lãm đa phương tiện, phòng chiếu phim và các phòng kính cho các khóa học về văn hóa bản địa. Những ngôi nhà này lượn cong những cái lưng óng ả bằng gỗ của nó về phía đại dương, để chống chọi với những cơn gió có thể tạo thành bão có sức gió trên 240km/h. Renzio Piano đã đưa ra sự diễn giải kiến trúc đương đại đầy tinh tế và bất ngờ khi thiết kế trung tâm này. Nhìn xa trông nó như những bẫy khổng lồ chờ đợi những chiến binh dại dột.
Rạp chiếu bóng UFA, Dresden, Đức (1996-1998)
Một khu nhà với hình dạng đầy bất ngờ, là kết quả của bê-tông và thủy tinh thể. Được xây dựng cho tổ chức nhà hát UFA với ngân sách rất hạn chế 12.000 DM/ghế ngồi, quần thể kiến trúc này bao gồm 8 sân khấu và có tổng cộng 2600 ghế. Với sự tương phản trong một phong cách ghi dấu ấn của kiến trúc Stalin, hình dạng lạ thường của ngôi nhà này mang lại sinh lực mới cho trung tâm thành phố Dresden của Đức. Ngôi nhà do nhóm kiến trúc sư nổi tiếng Coop Himmelb(L)au thiết kế, do Wolf Prix và Helmut Swiczinsky thành lập. 30 năm sau khi thành lập, hai kiến trúc sư này vẫn đang "oanh tạc" đất đai các thành phố trung tâm bằng những thiết kế hết sức khốc liệt, những cơ thể nhà khổng lồ và chật vật. Họ luôn tìm sự đồng nhất trong một phong cách đặc biệt được gọi là phong trào Deconstructivist. Theo lời Wolf Prix thì "ngôi nhà được thiết kế như một video-clip, gạt bỏ viễn cảnh tập trung". Chi phí: 32.000.000 DM. Diện tích: 2600m2.
Bảo tàng người Do Thái (Berlin, Đức, 1989-1999)
Bảo tàng này có một lịch sử dài và phức tạp. Dự án được khởi sự vào năm 1988 như một phân nhánh nhỏ của Bảo tàng Berlin. Kiến trúc sư Daniel Libeskind đã giành được giải nhất trong một cuộc tranh tài vào năm 1989. Sự đổ vỡ của Bức tường Berlin và quyết định chuyển thủ đô đã ảnh hưởng đến việc thực hiện dự án. Vượt ra khỏi khuôn khổ cũ, giám đốc bảo tàng, ông W. Micheal Blumenthal quyết định bao quát "toàn bộ lịch sử mối quan hệ giữa người Do Thái và những người không phải Do Thái từ thời La Mã tới nay". Rất nhiều tiết diện của khu nhà duy trì những khoảng trống cố ý, những vết cắt như để tượng trưng cho sự trống rỗng và thiếu vắng của những người Do Thái đã chết trong thảm họa tàn sát Holocaust. Ngôi nhà được xây dựng trên diện tích 9500m2 với chi phí 72.100.000 DM
Kiến trúc sống hiện đại đến từ “Đảo quốc Sư tử”
Từng đặt chân đến đảo quốc sư tử Singapore, hẳn những kiến trúc cao ốc tại đây đã để lại trong chúng ta nhiều ngạc nhiên thú vị. Đó là những khối kiến trúc thể hiện rõ phong cách sáng tạo từ ý tưởng thiết kế mang đậm nét phương Đông kết hợp với các chuẩn mực hiện đại; đó là những kiến tạo được “giao thoa” từ nét đặc sắc của các nền văn hóa thể hiện sự mạnh mẽ, năng động cho sự phát triển… Những ý tưởng sáng tạo đó đã được Kiến trúc sư Nhật Bản Kudo Norihoko thuộc Công ty KyTa (Singapore) chuyển thể thành một kiệt tác tại Khu Kênh Đào của đô thị Phú Mỹ Hưng. The Garden Plaza 1 dự kiến sẽ được công bố trung tuần tháng 12/2005.
Một không gian sống cảnh quan và tiện ích
Tọa lạc trong khu Kênh Đào trên diện tích đất gần 7.000m2, The Garden Plaza 1 có vị trí khá lý tưởng, ngay mặt tiền con đường công viên kênh đào cảnh quan đẹp nhất trong đô thị Phú Mỹ Hưng, bên cạnh dòng sông cảnh quan trong xanh, yên bình; Garden Plaza 1 hài hòa trong tổng thể quy hoạch hoàn chỉnh gồm những kiến trúc nổi bật của Khu Kênh Đào như: Căn hộ The Panorama, The Grand View, khu biệt thự Nam Thiên Lục Địa, biệt thự Mỹ Tú 2. Tại đây, kiến trúc sư người Nhật Bản đang làm việc tại Singapore muốn tạo nên một khối kiến trúc hài hòa bằng một phong cách hoàn toàn mới. Nhìn từ xa, Garden Plaza 1 tạo cảm giác “phá cách” bởi sự thay thế những ô cửa sổ và mảng tường cứng nhắc bằng sự sang trọng của tường kính trong suốt rất thoáng, sáng với lam nhôm cùng thanh chắn hài hòa, tao nhã. Chúng như những cánh tay đón nhận gió và ánh sáng từ không gian trong xanh bên ngoài vào từng căn hộ, tạo nên vẻ đẹp lung linh, sang trọng.

Hình vẽ 3D dự án The Garden Paza 1
Về cấu trúc, The Garden Plaza 1 là một tòa nhà cao 8 tầng, gồm 4 block liền nhau, nhưng từ tầng trệt đến tầng 3 các block này không thông nhau mà được phân cách bằng những hành lang rộng thông từ mặt trước ra sau. Toàn dự án quy hoạch 14 cửa hiệu (tầng trệt và tầng 2) và 96 căn hộ (từ tầng 3 trở lên) với 11 kiểu nhà. Giữ diện tích lớn từ 133m2 đến 524m2, các cửa hiệu trong The Garden Plaza 1 có thể sử dụng cho nhiều mục đích khác nhau, tạo thuận lợi cho việc đa dạng hóa mục đích kinh doanh tại một trong những “tiểu đô thị” đẹp nhất Phú Mỹ Hưng. Đối với người muốn an cư, tận hưởng cuộc sống trong lành, thanh bình thì các căn hộ với diện tích từ 123m2 đến 222m2 sẽ là những lựa chọn hợp lý. Tương tự một số thiết kế hiện đại tại các dự án căn hộ cao cấp gần đây của Phú Mỹ Hưng, The Garden Plaza 1 tạo sự thông thoáng bởi tất cả các phòng ngủ, phòng khách đều hướng ra không gian mở bên ngoài với ban công rộng để đón ánh sáng và gió thiên nhiên từ các công viên đối diện. Ngoài ra, ở tầng 3 của The Garden Plaza 1 còn có 2 hồ bơi (hồ lớn 184m2, hồ trẻ em có bán kính 12m2) cùng Quảng trường rộng 740m2 “trải” ngay trong khoảng không gian rộng xuyên suốt 2 mặt cao ốc; quy hoạch bãi đậu xe hơi gồm 110 chỗ đậu xe hơi (mỗi hộ 1 chỗ) và 220 chỗ đậu xe gắn máy sẽ tăng thêm phần tiện nghi cho cư dân tại đây.
Khu Kênh Đào - phố của cảnh quan
Nhắc đến The Garden Plaza 1, không thể không nhắc đến ý tưởng đặc sắc của các kiến trúc sư đã “vẽ” nên một trong những con đường đẹp nhất khu đô thị Phú Mỹ Hưng, nơi mà bất kỳ ai đi ngang qua đều phải trầm trồ. Đó là một con đường dài hơn 600m có sự phân giới giữa hai chiều không phải là con lươn bằng bêtông cốt thép như thường thấy ở các nơi, mà là một công viên có chiều dài tương ứng và chính giữa len lỏi một dòng kênh xanh. Một khoảng đất được phủ đầy hoa, cây xanh, những lối đi men theo dòng suối róc rách tạo nên cái hồn của Khu Kênh Đào. Nơi đây bất kỳ ai đã một lần đến rồi đi, đều cảm thấy nhẹ nhàng như được trở về thiên nhiên trong lành và giản dị…
Một góc Khu Kênh Đào tại Phú Mỹ HưngKhác với những khu quy hoạch khác tại Phú Mỹ Hưng, Khu Kênh đào rộng gần 37ha này tọa lạc dọc theo con sông quanh năm chan hòa nắng gió, bên kia sông dự kiến quy hoạch sân Golf 36 lỗ. Gần hơn một chút, Khu Kênh Đào còn được ôm gọn bởi 2 công viên đô thị với diện tích gần tròn 16ha. Có người đã ví von Khu Kênh Đào như một “thành phố của cảnh quan và gió” thì cũng chẳng có gì là quá bởi sự giao hòa của thiên nhiên, cây cỏ và hoa lá; sự kết hợp mặt nước, bầu trời và kiến trúc; sự gặp gỡ của nắng gió và những âm thanh tự nhiên như tạo nên một bức tranh đẹp đưa luồng gió mát ùa vào từng ngôi nhà của cư dân Khu Kênh Đào.
Ưu thế thiên nhiên của khu Kênh Đào đã khởi nguồn cho nhiều ý tưởng thiết kế các dự án tại đây với những công trình đầy bản sắc đa dạng của nhiều phong cách kiến trúc trong tương quan hài hòa để cư dân có thể sống thoải mái, nơi nào cũng có thể ngắm cảnh và ngôi nhà giữa thiên nhiên của họ đầy ắp cảnh quan đẹp.
Ngoài những ưu điểm về địa thế, môi trường, kiến trúc… yếu tố tạo nên ưu điểm cho khu Kênh Đào là sự kết hợp với khu Hồ Bán Nguyệt để tạo nên một cảnh quan nhân tạo hiếm có. Dọc bên bờ phía Đông, “phông” của Hồ Bán Nguyệt sẽ là các cao ốc văn phòng, cao ốc thương mại, khu dịch vụ mua sắm, khu giải trí cao cấp và bờ bên kia là khu dân cư quy hoạch hoàn chỉnh. Đêm đến, Khu Kênh Đào và khu thương mại bờ phía Đông Hồ Bán Nguyệt sẽ được phản chiếu trên mặt nước hồ như một bức tranh hữu tình. Hơn hết, cư dân tại The Garden Plaza 1 sẽ là những người được chiêm ngưỡng trọn vẹn những cảnh quan sống thực sự không chỉ tồn tại trong những giấc mơ.
Trong tương lai gần, cư dân từ các khu vực của đô thị Phú Mỹ Hưng sẽ có thể tản bộ đến khu Hồ Bán Nguyệt và thả dọc theo các lối dạo bộ ven hồ để đến các khu dịch vụ mua sắm, giải trí tại The Garden Plaza 1. Với việc hỗ trợ trả góp dài hạn qua ngân hàng, việc mua căn hộ The Garden Plaza 1 sẽ không còn là quá khó cho việc sở hữu những căn hộ tại Phú Mỹ Hưng nói chung và những cư dân The Garden Plaza 1 nói riêng.
Và có lẽ, hiếm có dự án bất động sản nào mà tại đó tầm nhìn của những nhà quy hoạch chiến lược không chỉ vì mục đích lợi nhuận. Mà tại đó, triết lý kinh doanh của họ như một lời cam kết về chiến lược xây dựng nên một đô thị văn minh, cộng đồng nhân văn trong tương lai.
Tường Minh Theo SGGP,
Một không gian sống cảnh quan và tiện ích
Tọa lạc trong khu Kênh Đào trên diện tích đất gần 7.000m2, The Garden Plaza 1 có vị trí khá lý tưởng, ngay mặt tiền con đường công viên kênh đào cảnh quan đẹp nhất trong đô thị Phú Mỹ Hưng, bên cạnh dòng sông cảnh quan trong xanh, yên bình; Garden Plaza 1 hài hòa trong tổng thể quy hoạch hoàn chỉnh gồm những kiến trúc nổi bật của Khu Kênh Đào như: Căn hộ The Panorama, The Grand View, khu biệt thự Nam Thiên Lục Địa, biệt thự Mỹ Tú 2. Tại đây, kiến trúc sư người Nhật Bản đang làm việc tại Singapore muốn tạo nên một khối kiến trúc hài hòa bằng một phong cách hoàn toàn mới. Nhìn từ xa, Garden Plaza 1 tạo cảm giác “phá cách” bởi sự thay thế những ô cửa sổ và mảng tường cứng nhắc bằng sự sang trọng của tường kính trong suốt rất thoáng, sáng với lam nhôm cùng thanh chắn hài hòa, tao nhã. Chúng như những cánh tay đón nhận gió và ánh sáng từ không gian trong xanh bên ngoài vào từng căn hộ, tạo nên vẻ đẹp lung linh, sang trọng.

Hình vẽ 3D dự án The Garden Paza 1
Về cấu trúc, The Garden Plaza 1 là một tòa nhà cao 8 tầng, gồm 4 block liền nhau, nhưng từ tầng trệt đến tầng 3 các block này không thông nhau mà được phân cách bằng những hành lang rộng thông từ mặt trước ra sau. Toàn dự án quy hoạch 14 cửa hiệu (tầng trệt và tầng 2) và 96 căn hộ (từ tầng 3 trở lên) với 11 kiểu nhà. Giữ diện tích lớn từ 133m2 đến 524m2, các cửa hiệu trong The Garden Plaza 1 có thể sử dụng cho nhiều mục đích khác nhau, tạo thuận lợi cho việc đa dạng hóa mục đích kinh doanh tại một trong những “tiểu đô thị” đẹp nhất Phú Mỹ Hưng. Đối với người muốn an cư, tận hưởng cuộc sống trong lành, thanh bình thì các căn hộ với diện tích từ 123m2 đến 222m2 sẽ là những lựa chọn hợp lý. Tương tự một số thiết kế hiện đại tại các dự án căn hộ cao cấp gần đây của Phú Mỹ Hưng, The Garden Plaza 1 tạo sự thông thoáng bởi tất cả các phòng ngủ, phòng khách đều hướng ra không gian mở bên ngoài với ban công rộng để đón ánh sáng và gió thiên nhiên từ các công viên đối diện. Ngoài ra, ở tầng 3 của The Garden Plaza 1 còn có 2 hồ bơi (hồ lớn 184m2, hồ trẻ em có bán kính 12m2) cùng Quảng trường rộng 740m2 “trải” ngay trong khoảng không gian rộng xuyên suốt 2 mặt cao ốc; quy hoạch bãi đậu xe hơi gồm 110 chỗ đậu xe hơi (mỗi hộ 1 chỗ) và 220 chỗ đậu xe gắn máy sẽ tăng thêm phần tiện nghi cho cư dân tại đây.
Khu Kênh Đào - phố của cảnh quan
Nhắc đến The Garden Plaza 1, không thể không nhắc đến ý tưởng đặc sắc của các kiến trúc sư đã “vẽ” nên một trong những con đường đẹp nhất khu đô thị Phú Mỹ Hưng, nơi mà bất kỳ ai đi ngang qua đều phải trầm trồ. Đó là một con đường dài hơn 600m có sự phân giới giữa hai chiều không phải là con lươn bằng bêtông cốt thép như thường thấy ở các nơi, mà là một công viên có chiều dài tương ứng và chính giữa len lỏi một dòng kênh xanh. Một khoảng đất được phủ đầy hoa, cây xanh, những lối đi men theo dòng suối róc rách tạo nên cái hồn của Khu Kênh Đào. Nơi đây bất kỳ ai đã một lần đến rồi đi, đều cảm thấy nhẹ nhàng như được trở về thiên nhiên trong lành và giản dị…

Một góc Khu Kênh Đào tại Phú Mỹ HưngKhác với những khu quy hoạch khác tại Phú Mỹ Hưng, Khu Kênh đào rộng gần 37ha này tọa lạc dọc theo con sông quanh năm chan hòa nắng gió, bên kia sông dự kiến quy hoạch sân Golf 36 lỗ. Gần hơn một chút, Khu Kênh Đào còn được ôm gọn bởi 2 công viên đô thị với diện tích gần tròn 16ha. Có người đã ví von Khu Kênh Đào như một “thành phố của cảnh quan và gió” thì cũng chẳng có gì là quá bởi sự giao hòa của thiên nhiên, cây cỏ và hoa lá; sự kết hợp mặt nước, bầu trời và kiến trúc; sự gặp gỡ của nắng gió và những âm thanh tự nhiên như tạo nên một bức tranh đẹp đưa luồng gió mát ùa vào từng ngôi nhà của cư dân Khu Kênh Đào.
Ưu thế thiên nhiên của khu Kênh Đào đã khởi nguồn cho nhiều ý tưởng thiết kế các dự án tại đây với những công trình đầy bản sắc đa dạng của nhiều phong cách kiến trúc trong tương quan hài hòa để cư dân có thể sống thoải mái, nơi nào cũng có thể ngắm cảnh và ngôi nhà giữa thiên nhiên của họ đầy ắp cảnh quan đẹp.
Ngoài những ưu điểm về địa thế, môi trường, kiến trúc… yếu tố tạo nên ưu điểm cho khu Kênh Đào là sự kết hợp với khu Hồ Bán Nguyệt để tạo nên một cảnh quan nhân tạo hiếm có. Dọc bên bờ phía Đông, “phông” của Hồ Bán Nguyệt sẽ là các cao ốc văn phòng, cao ốc thương mại, khu dịch vụ mua sắm, khu giải trí cao cấp và bờ bên kia là khu dân cư quy hoạch hoàn chỉnh. Đêm đến, Khu Kênh Đào và khu thương mại bờ phía Đông Hồ Bán Nguyệt sẽ được phản chiếu trên mặt nước hồ như một bức tranh hữu tình. Hơn hết, cư dân tại The Garden Plaza 1 sẽ là những người được chiêm ngưỡng trọn vẹn những cảnh quan sống thực sự không chỉ tồn tại trong những giấc mơ.
Trong tương lai gần, cư dân từ các khu vực của đô thị Phú Mỹ Hưng sẽ có thể tản bộ đến khu Hồ Bán Nguyệt và thả dọc theo các lối dạo bộ ven hồ để đến các khu dịch vụ mua sắm, giải trí tại The Garden Plaza 1. Với việc hỗ trợ trả góp dài hạn qua ngân hàng, việc mua căn hộ The Garden Plaza 1 sẽ không còn là quá khó cho việc sở hữu những căn hộ tại Phú Mỹ Hưng nói chung và những cư dân The Garden Plaza 1 nói riêng.
Và có lẽ, hiếm có dự án bất động sản nào mà tại đó tầm nhìn của những nhà quy hoạch chiến lược không chỉ vì mục đích lợi nhuận. Mà tại đó, triết lý kinh doanh của họ như một lời cam kết về chiến lược xây dựng nên một đô thị văn minh, cộng đồng nhân văn trong tương lai.
Tường Minh Theo SGGP,
Suy nghĩ về kiến trúc Việt Nam đương đại
PGS.TS.KTS. Nguyễn Hồng Thục
Tôi nhận được thông báo của HKTSVN về hội thảo “Những vấn đề của KTVN đương đại” không sớm để có thể kịp lùi lại nhìn cho được một thời khoảng, bao quát cho được một không gian của Kiến trúc Việt như mong muốn bởi thời điểm này cái nhìn,vẫn sát gần quá, không dễ gì bao quát nổi.Nhưng gì thì vẫn phải nhìn cho rõ cái đang diễn ra nội tại của Kiến trúc Việt Nam hôm nay từ góc độ người sáng tác – cầm bút. Những bi quan, trăn trở luôn là tâm trạng của những người có trách nhiệm với đời, với nghề và xã hội. Kiến trúc hiện đại ở các nước đang phát triển.Kiến trúc hiện đại bắt đầu từ tư tưởng công nghiệp hoá ở Phương Tây đã nhanh chóng trở thành quá trình toàn cầu hoá, trong lịch sử chưa có phong cách kiến trúc nào lan toả rộng rãi như vậy. Nhìn nhận vấn đề này từ góc độ người sáng tác kiến trúc là một vấn đề không mới, nhưng sẽ làm sáng thêm một số con đường hiện đại hoá Kiến trúc Việt Nam.Ý tưởng về kiến trúc hiện đại hình thành từ cuộc cách mạng công nghiệp, cuộc cách mạng thúc đẩy các vấn đề mới: vật liệu và phương pháp xây dựng mới (sử dụng gang, thép thay thế gạch đá), những nhà đầu tư mới, chức năng mới, và tạo ra các hình thức kiến trúc mới ( nhà ga, kho tàng, nhà cao tầng , thép…) vượt qua các thể lệ và nguyên tắc thiết kế của Kiến trúc tân cổ điển trước đó.Xu thế sáng tạo ra những “phong cách kiến trúc hiện đại” đích thực, không giống các thời đại trước, đã dần lan rộng trên toàn thế giới, là nguyên nhân gây nên sự khủng hoảng cho các kinh nghiệm xây dựng truyền thống. Hơn thế nữa công nghiệp hoá đã phá vỡ thế giới thủ công và thúc đẩy cho truyền thống sụp đổ nhanh chóng. Máy móc đã tạo nên sự chia rẽ giữa công việc chân tay , trí óc và thẩm mỹ trong công trình hiện đại về cơ bản mang tính thực dụng và tiêu chuẩn hoá. Điều đó đánh mất sự hoàn thiện vốn là tính đặc trưng và sự lôi cuốn mỹ cảm của các sản phẩm truyền thống.Sau những năm 1940 và 1950 kiến trúc hiện đại vươn tầm ảnh hưởng đáng kể lên những quốc gia “kém phát triển” và ở đây chúng thường thiếu chất thơ và chiều sâu tư tưởng để có thể trở thành kiệt tác của trào lưu hiện đại. Chủ yếu những nước đang phát triển du nhập hình mẫu của “ phong cách quốc tế” do tính hợp lý trong sử dụng và xây dựng rẻ tiền. Kiến trúc theo phong cách này nhanh chóng đối lập với sự lạc hậu và chậm phát triển của thời kỳ trước, tác động lên xu hướng phát triển đô thị và kiến trúc địa phương. Xu hướng hiện đại phát triển nhanh chóng trong thập niên 60,70 ( Đông Nam á , Irắc, Nigieria) đã chuyển nền kinh tế nông thôn , nông nghiệp sang nền kinh tế đô thị và công nghiệp chỉ trong một thế hệ. Những phương tiện hiện đại( trong đó có kiến trúc hiện đại) du nhập từ bên ngoài đã gây nên sự đảo lộn giữa mới – cũ, đô thị – nông thôn về mặt văn hoá và xã hội. Cho đến nay các trung tâm đô thị đã mọc lên nhanh chóng trên thế giới và cả Đông nam á dường như mang sắc thái của khu Manhanta, Newyork hơn là sắc thái địa phương, dân tộc mà kiến trúc lịch sử của họ đã lưu truyền lại hàng ngàn năm trước.Trong suốt một thế kỷ , kiến trúc hiện đại đã tỏ rõ ưu điểm về kỹ thuật và hiệu quả trong hoạt động. Nhưng chúng lại xa lạ với kiến cảnh quan văn hóa và cảnh quan tự nhiên của địa điểm. Yếu điểm này của kiến trúc hiện đại càng bộc lộ rõ khi kinh tế tăng trưởng, con người không chỉ cần một không gian tiện nghi mà lớn hơn cả là không gian tinh thần, không gian thẩm mỹ( điều mà kiến trúc truyền thống qua nhiều thế kỷ đã tạo dựng được)Kiến trúc hiện đại có mặt tại Việt Nam – những thời kỳ đầu tiên.Sự thèm khát thiên nhiên, cảm nhận được vẻ đựo của con người, địa điểm, sự gắn bó với một vùng đất làm con người hiện đại ngày càng hướng tới một nền kiến trúc địa phương nhưng vấn khai thác hiệu quả các vấn đề về tổ chức chức năng và phương tiện kỹ thuật của kiến trúc hiện đại. Phải chăng đây cũng là tư tưởng chúng ta muốn hướng tới? Nền Kiến trúc Việt truyền thống nảy sinh từ cuộc sống cần lao nuôi dưỡng trong văn hoá làng xã hàng ngàn năm đã đạt được sự kết tinh của vẻ đẹp và sử dụng. Căn tính của Kiến trúc Việt phải chăng là sự “kiệm lời, linh hoạt” trong tổ chức không gian chức năng nhằm đạt tinh thần thẩm mỹ của sự hoà nhập - với thiên nhiên, cây cỏ, bầu trời.Thử nhìn lại Kiến trúc Việt Nam những chặng đầu tiên tiếp xúc giao thoa với Kiến trúc hiện đại thế giới. Trường cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương ra đời năm 1925 đã đưa ra tôn chỉ đào tạo các nghệ sỹ, kiến trúc sư những hiểu biết về phương Tây (được hiểu là nghệ thuật hiện đại thời kỳ đầu) và cả phương Đông – như một phong cách bản địa và thực sự phải phát huy được “sức sáng tạo của Việt Nam” ( theo Carinne D.M). Tư tưởng này đã làm nên một thế hệ kiến trúc sư thứ nhất ở Việt Nam với sự ra đời phong cách Đông Dương nổi tiếng để lại dấu ấn trong lịch sử Kiến trúc Việt Nam thời cận và hiện đại. Các kiến trúc sư thế hệ thứ nhất của trường Cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương sử dụng kỹ thuật và vật liệu mới, nhưng không bao giờ xa rời vẻ đẹp mộc mạc, thanh tao của Kiến trúc Việt truyền thống, vốn chống lại sự mầu mè, phô trương, nặng nề.Thời kỳ hoà bình lập lại, kiến trúc Việt Nam có nền tảng xã hội chủ nghĩa với phương châm thiết kế: “ Thích dụng, bền vững, mỹ quan trong điều kiện có thể”. Kiến trúc thời kỳ này có nhiều cống hiến khi cho ra đồi một phong cách trong sáng cô đọng , phù hợp với đời sống cán bộ công nhân viên chức XHCN, về thực chất gần gũi với kiến trúc công năng thời kỳ đầu. Trong chiến tranh chống Mỹ, kiến trúc hiện đại vẫn phát triển ở nước ta thông qua các nguyên lý kiến trúc của trường phái Xô Viết, toàn diện hơn, đầy đủ hơn, chú trọng đến công nghiệp hoá cấu kiện, tính thống nhất của hệ thống modul và tiêu chuẩn hoá các loại hình kiến trúc. Đây cũng chính là nền tảng quan trọng về học thuật để đào tạo và sáng tác kiến trúc. Kiến trúc Việt Nam. Thời kỳ này phát triển đầy đủ các loại hình thông dụng: trường học, nhà ở , chung cư, nhà văn hoá, trụ sở, bách hoá, nhà máy…với ngôn ngữ kiến trúc giản dị, ảnh hưởng bởi kiến trúc Liên Xô cũ (còn nhiều dấu vết ở cấu tạo mái và hệ thống panel sàn) các sáng tác kiến trúc tốt đều mang tính cơ bản của các nguyên tắc loại hình kiến trúc (typology) và thống nhất về phong cách ( chủ yếu là các hình hộp chạy dài, ít trang trí như là các trường đại học, các chung cư lắp ghép tấm lớn…) Ở miền Nam Việt Nam, thời kỳ những năm 50, 60 (thế kỷ 20) các kiến trúc sư thế hệ thứ hai đã theo đựơc tư tưởng của thế hệ thứ nhất thông qua việc sử dụng tối đa nguyên tắc thiết kế khí hậu. Những công trình hiện đại như Dinh độc lập, đại sứ quán Mỹ, khu nhà ngân hàng cao tầng trên đường Nguyễn Huệ, đại học Y đều có chung một ngôn ngữ của phong cách Kiến trúc nhiệt đới hoá nổi tiếng cả Đông Nam Á thời đó, tạo nên tính bản địa cao của Kiến trúc hiện đại Việt Nam Những vấn đề đang phải đối mặt.Từ thời kinh tế thị trường năm 1985 đến nay kiên trúc Việt Nam đổi thay mạnh mẽ. Đô thị hoá rộng khắp và các dự án mọc lên như nấm (sau 1996). Các loại hình kiến trúc của thời kỳ phát triển này là nhà chia lô, khách sạn, văn phòng cho thuê, khu công nghiệp, chế xuất tập trung và các khu đô thị mới cao tầng. Nhưng về phong cách và tính thẩm mỹ, thậm chí về công năng lại tụt hậu đáng kể so với thời kỳ trước. Ở các đô thị lớn, do hệ quả của dự án, thành phố đã bị xé lẻ thành nhiều mảnh riêng riêng biệt, ngôn ngữ kiến trúc vụn vặt chắp vá, tính tổng thể xưa kia vốn là nền tảng của vẻ đẹp đô thị nay bị phá vỡ, làm tổn hại nặng nề đến bộ mặt thành phố. Có thể nói “ thành phố của dự án” tương đồng với thuật ngữ “thành phố bị phá vỡ cấu trúc” đang đại diện cho kiến trúc đô thị thời mở cửa.Hệ quả của sự “bơ vơ” về tư tưởng của kiến trúc hiện nay đang thể hiện rất rõ trong sáng tác và đào tạo kiến trúc sư cả nước. Không phủ nhận vẫn có những tác phẩm và đồ án sinh viên xuất sắc…, song nhìn chung thể hiện sự hẫng hụt trong học thuật và lý luận của kiến trúc. Kiến trúc thời bao cấp không còn đáp ứng được xã hội. Kiến trúc mới chưa kịp ổn định thì gặp phải làn sóng dự án đầu tư vì mục đích thương mại, vùi lấp các mảng sáng để lại nhiều khoảng trống và miền tối trong sáng tác.Xem xét lại kinh nghiệm các nước đang phát triển đã trải qua thời kỳ tương tự cho thấy những vấn đề nảy sinh từ quá trình hiện đại hoá nhanh chóng đã thấy rõ qua nhưng ví dụ về kiến trúc Nhật Bản và Mỹ Latin ở đầu thế kỷ 20, trong những thập kỷ tiếp theo sau Chiến Tranh Thế Giới lần 2 rất nhiều vùng khác trên thế giới, đặc biệt là ở Châu Phi, và Trung và Viễn Đông cũng bị ảnh hưởng nặng nề bởi quá trình này. Ở đây phải lưu ý rằng đôi khi chủ nghĩa hiện đại được chào đón như là một công cụ có ích để chuyển biến xã hội ( như là ở Ấn Độ chẳng hạn). Nhưng đôi khi nó chỉ đơn giản là một phần trong dự án đầu tư mang tính quốc tế- trong trường hợp này, sự xuất hiện của nó thường được gắn với những công việc kính doanh quốc tế. Trong trường hợp công trình như vậy thường thô thiển và thiếu đi sự nhạy cảm của truyền thống , giá trị văn hoá và khí hậu địa phương. Thậm chí nếu ở đó có những kiến trúc sư say mê tái thể hiện những truyền thống địa phương, thì họ cũng sẽ gặp khó khăn trong việc tìm ra tính bản địa để thích ứng với những chức năng hiện đại. Điều này cũng đang xảy ra ở Việt Nam hiện nay.- Xung đột giữa cái mới và cái cũ luôn là một dạng khủng hoảng của quá trình công nghiệp hoá. Nhưng có ít nhất hai sự khác nhau cơ bản; trường hợp thứ nhất những quốc gia “tiến tiến” tự tạo ra cuôc cách mạng công nghiệp (industrial revolution); đã trải qua gần một thế kỷ để điều chỉnh những thay đổi có ảnh hưởng sâu rộng về mặt văn hoá và xã hội đi kèm với nó. Trường hợp thứ hai là các nước thế giới thứ 3 phát triển nhanh chóng trong thập kỷ 60s,70s và 80s (ví dụ như Iran và Nigeria, Hàn quốc, Malaysia…) với những công cụ có nguồn gốc kỹ thuật, vật liệu từ bên ngoài (trong đó có Kiến trúc). Không có gì ngạc nhiên rằng sự đảo lộn giữa cái mới và cũ, đô thị và nông thôn về mặt văn hoá xã hội có lẽ cũng xuất hiện cùng thời điểm này.- Người ta nhận thấy thời kỳ này những tầng lớp mới phất dường như muốn tách bản thân họ ra khỏi những giá trị lịch sử của quê hương họ để chạy theo cái gọi là “sự tự do tiêu dùng” của Phương Tây. Họ trở nên ham muốn những hình ảnh hào nhoáng, chú trọng vào sự phô trương và loè loẹt để có thể khẳng định vị thế riêng của mình. Trong khi các công trình Kiến trúc trông có vẻ bề ngoài hiện đại (không phải là kiến trúc hiện đại đích thực) còn đang được xem xét ở Phương Tây thì chúng đã trở nên thịnh hành ở thế giới thứ ba. Mỉa mai thay quá nhiều quốc gia vừa mới được giải phóng khỏi sự cai trị thuộc địa lại nhanh chóng bị thuyết phục sử dụng lại những dạng thức kiến trúc Phương Tây tầm thường đã lạc hậu ngay ở chính quốc, như trường hợp hội chứng Kiến trúc Pháp cổ ở Việt Nam chẳng hạn.- Thiết kế hiện đại mang tính quốc tế rẻ tiền với những tiêu chuẩn sáo rỗng- thường có nhứng tấm kính phẳng lớn, thịnh hành ở các nước nghèo thực chất là những ban công hình bầu dục, sảnh được chạy điều hoà với những cửa sổ kính mầu, những khung bê tông màu trắng.v.v… đang hút nguồn tài chính xây dựng của các quốc gia này, Le Corbusier đã đúng khi ông đưa ra ý kiến rằng máy móc đã gây ra một cuộc cách mạng tự thân của nó và cuộc cách mạng này thì đã vượt qua cả ý thức hệ xã hội. Kiến trúc hiện đại đang cố gắng giải quyết vấn đề của mình ở Phương Tây thì giờ đây đang gây ảnh hưởng ở những nơi đang phải.Vấn đề này có thể lý giải tại sao Việt Nam chưa thể có Kiến trúc riêng của mình như thời kỳ trước trong lịch sử. - Con đường để thoát khỏi bế tắc này là cố gắng kết hợp những giá trị bản địa và giá trị du nhập. Tuy nhiên phải tránh “Chủ nghĩa Bản Địa rởm” – với sự gắn kết một vài môtyt mang tính lịch sử bề nổi của nó. Có lẽ sự hợp lý hơn cả là cần tìm kiếm “chủ nghĩa hiện đại khu vực” (local modernism) đã bắt đầu ở một vài nước vào thập kỷ 30 và ở Việt Nam thông qua phong cách Đông Dương vào thời kỳ nay. Xu hướng này tiếp diễn dưới những hình thức khác vào những thập kỷ 40-50 trên thế giới, ở miền Nam Việt Nam những năm 60,70. Đây là nỗ lực nhằm rút những kinh nghịêm truyền thống địa phương và hoà trộn chúng với ngôn ngữ kiến trúc hiện đại có chọn lọc và kiểm chứng thông qua sự diễn giải Kiến trúc. Con đường tìm kiếm sự biểu đạt để thích ứng địa phương thành một hình thức hiện đại phù hợp với những điều kiện xã hội đang thay đổi sang công nghiệp hoá là một hướng đi hợp lý. Tuy nhiên không có một lối ra nào có thể đảm bảo thành công khi những người chưa đạt độ chín về chuyên môn đang nắm các cơ hội hành nghề gây nguy cơ tạo ra các kiến trúc không hài hoà giữa các biểu hiện truyền thống và hiện đại như trường hợp ở Việt Nam của chúng ta hiện nay.- Sự thông thương giữa những quốc gia đã công nghiệp hoá và đang công nghiệp hoá cũng đã có những sự xung đột về những cách thức thiết kế và xây dựng. Kiến trúc hiện đại cho rằng có một sự phân chia trong lao động giữa các kiến trúc sư, nhà sản xuất, kỹ sư và những người thợ xây dựng, nhưng ở nhiều nước “kém phát triển” có ít mức độ phân chia hơn Kiến trúc đắt tiền nhập khẩu, được sản xuất hàng loạt nhưng hoàn toàn không tính đến một chút kinh nghiệm và thực tế địa phương về xây dựng và lao động đây là van đề lớn. Kết quả các Kiến trúc hiện đại ở đây mâu thuẫn với những truyền thống thủ công lâu đời hàng thê kỷ trong việc xử lý kỹ thuật và vật liệu địa phương. Tính hợp lý thực tế của phong cách địa phương bị hạ thấp, và những chi tiết và những trực giác tinh tế của người thợ thủ công đã bị thay thế bởi những thành phần xây dựng mang tính công nghiệp xấu xí, hàng loạt và vô cảm. Đây cũng là nguyên nhân dẫn đến bộ mặt kiến trúc tạp nham hiện nay.Chúng ta có thể viện dẫn câu của Hanssan Fathy một kiến trúc sư khởi nguồn của xu hướng tìm tính địa phương trong Kiến trúc hiện đại : “Hiện đại không bắt buộc có nghĩa là sự xáo trộn, và sự thay đổi thị không phải luôn luôn để trở nên tốt hơn…Truyền thống thì không có nghĩa là lạc hậu và cũng không phải là sự đồng nghĩa với sự không phát triển … truyền thống là sự tương đồng mang tính xã hội của thói quen con người, và trong nghệ thuật nó có hiệu quả tương tự như giải phóng người nghệ sĩ khỏi những ảnh hưởng và những quyết định không cần thiết, để anh ta có thể tập trung toàn bộ cho những quyết định quan trong nhất trong tác phẩm”.Phần lớn các trào lưu kiến trúc đều là sản phẩm của xã hội. Những giá trị tôn giáo, khí hậu, công nghệ, và các cấu trúc chính trị xã hội quyết định yêu cầu và phong cách của Kiến trúc. Ngày nay với việc đi lại bằng máy bay, vơi những phương tiện thông tin liên lục địa, phim ảnh, các cấu trúc kinh tế toàn cầu và giao lưu văn hoá, thế giới trở nên nhỏ bé hơn và rất nhiều ảnh hưởng qui định phong cách mang tính quốc tế dựa trên công nghệ và kinh tế học… Nhưng ngay cả khi chấp nhận Phong Cánh Quốc Tế thì công nghệ và nhân tố kích thích từ bên ngoài, không nên thắng thế các nhân tố truyền thống. Các qui tắc mới đúng đắn trong thực tế Kiến trúc hiện đại là sự tìm kiếm tính địa phương, phù hợp với người dân và địa điểmKiến trúc sư – con người chủ thể với hoạt động sáng tạo là khâu then chốt tạo nên chất lượng Kiến trúc.Trở lại thực tế Việt Nam, chính sách mở cửa tạo điều kiện phát triển kinh tế và phồn vinh của đất nươc. Trong đó đáng kể nhất là sự giải phóng các động lực phát triển đô thị mà người ta thường gọi là trào lưu đô thị hoá. Chắc không ai hình dung ra sự mở rộng đến thế phạm vi các thành phố, thị xã và các dự án đô thị ở nước ta trong 10 năm qua. Đội ngũ kiến trúc sư nhờ vậy cũng trưởng thành nhanh chóng và đã đáp ứng đựơc nhu cầu thị trường thiết kế Quy hoạch - Kiến trúc.Trong thời kỳ mở của với các điều kiện phát triển đô thị như vậy lẽ ra bộ mặt Kiến trúc của Việt Nam phải có sự đổi mới cơ bản, Kiến trúc đương thời phải có những khu phố, công trình vượt trội, đánh dấu thời kỳ trưởng thành của Đô thị hiện đại, xứng với đồng tiền bỏ ra của nhân dân. Ngược lại với qui luật biện chứng thống nhất giữa điều kiện vật chất và tinh thần của xã hội dô thị Kiến trúc lại thiếu những tác phẩm lớn thiếu sự tác động của yếu tố con người- kiến trúc sư và chủ thể sáng tác trong các tác phẩm.Trong các giai đoạn trươc, nền kinh tế suy giảm vị chiến tranh và bao cấp, phương tiện vật chất cho Kiến trúc rất thơ sơ, lạc hậu nhưng các giá trị tinh thần vẫn được duy trì trong các sáng tác (Các giải thưởng quốc tế có uy tín mang đậm tính nhân văn của người Việt – làng nổi, làng sinh thái, giữ gìn phố cổ Hà Nội …) Trong cuốn sách “Từ hiện đại đến truyền thống” rất nổi tiếng của GS. Trần Đình Hượu đã chỉ ra nhiều yếu tố quyết định bản chất của dân tộc - hiện đại trong quá trình hiện đại hoá. Trong đó yếu tố gốc để xây dựng con người chủ thể của quá trình đó là xã hội hoá. May mắn thay giới Kiến trúc gần như đi đầu trong việc xã hội hoá các nghành nghề chuyên môn ở Việt Nam. Đáng lẽ điều này phải trở thành điểm mạnh để đạt đến các tác phẩm có thể làm nên thế hệ thứ 3, thứ 4 sáng tạo Kiến trúc.Cũng thử nhìn nhận vài nét về con người sáng tác Kiến trúc hiện nay tại Việt Nam:Việc hành nghề Kiến trúc “được” coi là một dạng dịch vụ trong cơ chế thị trường nên các tổ chức tư van thiết kế trở thành đon vị kinh doanh dịch vụ, khiến các kiến trúc sư trước hết phải lo hiệu quả kinh tế và chịu sức ép rất lớn về vật chất, đẩy nhiệm vụ sáng tác xuống thứ yếu. Hơn nữa, người kiến trúc sư không có cơ hội và điều kiện để bảo vệ thành quả lao động sáng tạo của mình. Sức ép về tiến độ thời gian cộng với sự hạn chế về nhân lực trong mỗi tổ chức thiết kế làm cho người thiết kế ít có điều kiện được làm việc toàn vẹn như ý muốn.- Hoạt động tư vấn thiết kế đã chịu sự khống chế về quản lý nhà nước (bởi Luật xây dựng, Tiêu chuẩn & Quy phạm xây dựng, Điều lệ Quản lý xây dựng cơ bản,…) còn bị ràng buộc bởi nhiều cơ quan quản lý (vốn đầu tư, thẩm định & cấp phép, quy hoạch – Kiến trúc, địa chính, môi trường ,…) Công tác quản lý xây dựng cơ bản được tăng cường nhưng lại tạo nhiều phiền phức cho công tác thiết kế. Trình tự phê duyệt một dự án phải qua nhiều cấp, nhiều thủ tục, nhưng không thực sự hiệu quả, chẳng những không phát huy được sáng tạo nghệ thuật mà còn tạo ra những khuôn mẫu máy móc mà chất lượng chỉ đạt mức trung bình.- Người kiến trúc sư thiết kế còn bị ràng buộc quá nhiều trách nhiệm (ngoài phạm vi chuyên môn), bị lệ thuộc quá nhiều vào chủ đầu tư và các cơ quan quản lý (về thủ tục và tài chính). Vai trò chủ thể của người kiến trúc sư lại bị xem nhẹ, lao động sáng tạo của kiến trúc sư chưa được đánh giá đúng mức: đơn giá thiết kế quá thấp ( chỉ bằng 1/3-1/4 của nước ngoài), mức chi phí thực tế còn thấp hơn nữa. Vai trò phản biện xã hội của Hội kiến trúc sư và tiếng nói chuyên môn của giới kiến trúc sư nói chung chưa được coi trọng khiến cho kiến trúc sư không có điều kiện phát triển nhân cách độc lập – là phẩm chất hàng đầu của con người chủ thể trong sáng tạo. Có lẽ đây là nguyên nhân chính có thể giải thích phần nào sự đáng buồn của bộ mặt Kiến trúc đô thị của Việt Nam hôm nay.
Tôi nhận được thông báo của HKTSVN về hội thảo “Những vấn đề của KTVN đương đại” không sớm để có thể kịp lùi lại nhìn cho được một thời khoảng, bao quát cho được một không gian của Kiến trúc Việt như mong muốn bởi thời điểm này cái nhìn,vẫn sát gần quá, không dễ gì bao quát nổi.Nhưng gì thì vẫn phải nhìn cho rõ cái đang diễn ra nội tại của Kiến trúc Việt Nam hôm nay từ góc độ người sáng tác – cầm bút. Những bi quan, trăn trở luôn là tâm trạng của những người có trách nhiệm với đời, với nghề và xã hội. Kiến trúc hiện đại ở các nước đang phát triển.Kiến trúc hiện đại bắt đầu từ tư tưởng công nghiệp hoá ở Phương Tây đã nhanh chóng trở thành quá trình toàn cầu hoá, trong lịch sử chưa có phong cách kiến trúc nào lan toả rộng rãi như vậy. Nhìn nhận vấn đề này từ góc độ người sáng tác kiến trúc là một vấn đề không mới, nhưng sẽ làm sáng thêm một số con đường hiện đại hoá Kiến trúc Việt Nam.Ý tưởng về kiến trúc hiện đại hình thành từ cuộc cách mạng công nghiệp, cuộc cách mạng thúc đẩy các vấn đề mới: vật liệu và phương pháp xây dựng mới (sử dụng gang, thép thay thế gạch đá), những nhà đầu tư mới, chức năng mới, và tạo ra các hình thức kiến trúc mới ( nhà ga, kho tàng, nhà cao tầng , thép…) vượt qua các thể lệ và nguyên tắc thiết kế của Kiến trúc tân cổ điển trước đó.Xu thế sáng tạo ra những “phong cách kiến trúc hiện đại” đích thực, không giống các thời đại trước, đã dần lan rộng trên toàn thế giới, là nguyên nhân gây nên sự khủng hoảng cho các kinh nghiệm xây dựng truyền thống. Hơn thế nữa công nghiệp hoá đã phá vỡ thế giới thủ công và thúc đẩy cho truyền thống sụp đổ nhanh chóng. Máy móc đã tạo nên sự chia rẽ giữa công việc chân tay , trí óc và thẩm mỹ trong công trình hiện đại về cơ bản mang tính thực dụng và tiêu chuẩn hoá. Điều đó đánh mất sự hoàn thiện vốn là tính đặc trưng và sự lôi cuốn mỹ cảm của các sản phẩm truyền thống.Sau những năm 1940 và 1950 kiến trúc hiện đại vươn tầm ảnh hưởng đáng kể lên những quốc gia “kém phát triển” và ở đây chúng thường thiếu chất thơ và chiều sâu tư tưởng để có thể trở thành kiệt tác của trào lưu hiện đại. Chủ yếu những nước đang phát triển du nhập hình mẫu của “ phong cách quốc tế” do tính hợp lý trong sử dụng và xây dựng rẻ tiền. Kiến trúc theo phong cách này nhanh chóng đối lập với sự lạc hậu và chậm phát triển của thời kỳ trước, tác động lên xu hướng phát triển đô thị và kiến trúc địa phương. Xu hướng hiện đại phát triển nhanh chóng trong thập niên 60,70 ( Đông Nam á , Irắc, Nigieria) đã chuyển nền kinh tế nông thôn , nông nghiệp sang nền kinh tế đô thị và công nghiệp chỉ trong một thế hệ. Những phương tiện hiện đại( trong đó có kiến trúc hiện đại) du nhập từ bên ngoài đã gây nên sự đảo lộn giữa mới – cũ, đô thị – nông thôn về mặt văn hoá và xã hội. Cho đến nay các trung tâm đô thị đã mọc lên nhanh chóng trên thế giới và cả Đông nam á dường như mang sắc thái của khu Manhanta, Newyork hơn là sắc thái địa phương, dân tộc mà kiến trúc lịch sử của họ đã lưu truyền lại hàng ngàn năm trước.Trong suốt một thế kỷ , kiến trúc hiện đại đã tỏ rõ ưu điểm về kỹ thuật và hiệu quả trong hoạt động. Nhưng chúng lại xa lạ với kiến cảnh quan văn hóa và cảnh quan tự nhiên của địa điểm. Yếu điểm này của kiến trúc hiện đại càng bộc lộ rõ khi kinh tế tăng trưởng, con người không chỉ cần một không gian tiện nghi mà lớn hơn cả là không gian tinh thần, không gian thẩm mỹ( điều mà kiến trúc truyền thống qua nhiều thế kỷ đã tạo dựng được)Kiến trúc hiện đại có mặt tại Việt Nam – những thời kỳ đầu tiên.Sự thèm khát thiên nhiên, cảm nhận được vẻ đựo của con người, địa điểm, sự gắn bó với một vùng đất làm con người hiện đại ngày càng hướng tới một nền kiến trúc địa phương nhưng vấn khai thác hiệu quả các vấn đề về tổ chức chức năng và phương tiện kỹ thuật của kiến trúc hiện đại. Phải chăng đây cũng là tư tưởng chúng ta muốn hướng tới? Nền Kiến trúc Việt truyền thống nảy sinh từ cuộc sống cần lao nuôi dưỡng trong văn hoá làng xã hàng ngàn năm đã đạt được sự kết tinh của vẻ đẹp và sử dụng. Căn tính của Kiến trúc Việt phải chăng là sự “kiệm lời, linh hoạt” trong tổ chức không gian chức năng nhằm đạt tinh thần thẩm mỹ của sự hoà nhập - với thiên nhiên, cây cỏ, bầu trời.Thử nhìn lại Kiến trúc Việt Nam những chặng đầu tiên tiếp xúc giao thoa với Kiến trúc hiện đại thế giới. Trường cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương ra đời năm 1925 đã đưa ra tôn chỉ đào tạo các nghệ sỹ, kiến trúc sư những hiểu biết về phương Tây (được hiểu là nghệ thuật hiện đại thời kỳ đầu) và cả phương Đông – như một phong cách bản địa và thực sự phải phát huy được “sức sáng tạo của Việt Nam” ( theo Carinne D.M). Tư tưởng này đã làm nên một thế hệ kiến trúc sư thứ nhất ở Việt Nam với sự ra đời phong cách Đông Dương nổi tiếng để lại dấu ấn trong lịch sử Kiến trúc Việt Nam thời cận và hiện đại. Các kiến trúc sư thế hệ thứ nhất của trường Cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương sử dụng kỹ thuật và vật liệu mới, nhưng không bao giờ xa rời vẻ đẹp mộc mạc, thanh tao của Kiến trúc Việt truyền thống, vốn chống lại sự mầu mè, phô trương, nặng nề.Thời kỳ hoà bình lập lại, kiến trúc Việt Nam có nền tảng xã hội chủ nghĩa với phương châm thiết kế: “ Thích dụng, bền vững, mỹ quan trong điều kiện có thể”. Kiến trúc thời kỳ này có nhiều cống hiến khi cho ra đồi một phong cách trong sáng cô đọng , phù hợp với đời sống cán bộ công nhân viên chức XHCN, về thực chất gần gũi với kiến trúc công năng thời kỳ đầu. Trong chiến tranh chống Mỹ, kiến trúc hiện đại vẫn phát triển ở nước ta thông qua các nguyên lý kiến trúc của trường phái Xô Viết, toàn diện hơn, đầy đủ hơn, chú trọng đến công nghiệp hoá cấu kiện, tính thống nhất của hệ thống modul và tiêu chuẩn hoá các loại hình kiến trúc. Đây cũng chính là nền tảng quan trọng về học thuật để đào tạo và sáng tác kiến trúc. Kiến trúc Việt Nam. Thời kỳ này phát triển đầy đủ các loại hình thông dụng: trường học, nhà ở , chung cư, nhà văn hoá, trụ sở, bách hoá, nhà máy…với ngôn ngữ kiến trúc giản dị, ảnh hưởng bởi kiến trúc Liên Xô cũ (còn nhiều dấu vết ở cấu tạo mái và hệ thống panel sàn) các sáng tác kiến trúc tốt đều mang tính cơ bản của các nguyên tắc loại hình kiến trúc (typology) và thống nhất về phong cách ( chủ yếu là các hình hộp chạy dài, ít trang trí như là các trường đại học, các chung cư lắp ghép tấm lớn…) Ở miền Nam Việt Nam, thời kỳ những năm 50, 60 (thế kỷ 20) các kiến trúc sư thế hệ thứ hai đã theo đựơc tư tưởng của thế hệ thứ nhất thông qua việc sử dụng tối đa nguyên tắc thiết kế khí hậu. Những công trình hiện đại như Dinh độc lập, đại sứ quán Mỹ, khu nhà ngân hàng cao tầng trên đường Nguyễn Huệ, đại học Y đều có chung một ngôn ngữ của phong cách Kiến trúc nhiệt đới hoá nổi tiếng cả Đông Nam Á thời đó, tạo nên tính bản địa cao của Kiến trúc hiện đại Việt Nam Những vấn đề đang phải đối mặt.Từ thời kinh tế thị trường năm 1985 đến nay kiên trúc Việt Nam đổi thay mạnh mẽ. Đô thị hoá rộng khắp và các dự án mọc lên như nấm (sau 1996). Các loại hình kiến trúc của thời kỳ phát triển này là nhà chia lô, khách sạn, văn phòng cho thuê, khu công nghiệp, chế xuất tập trung và các khu đô thị mới cao tầng. Nhưng về phong cách và tính thẩm mỹ, thậm chí về công năng lại tụt hậu đáng kể so với thời kỳ trước. Ở các đô thị lớn, do hệ quả của dự án, thành phố đã bị xé lẻ thành nhiều mảnh riêng riêng biệt, ngôn ngữ kiến trúc vụn vặt chắp vá, tính tổng thể xưa kia vốn là nền tảng của vẻ đẹp đô thị nay bị phá vỡ, làm tổn hại nặng nề đến bộ mặt thành phố. Có thể nói “ thành phố của dự án” tương đồng với thuật ngữ “thành phố bị phá vỡ cấu trúc” đang đại diện cho kiến trúc đô thị thời mở cửa.Hệ quả của sự “bơ vơ” về tư tưởng của kiến trúc hiện nay đang thể hiện rất rõ trong sáng tác và đào tạo kiến trúc sư cả nước. Không phủ nhận vẫn có những tác phẩm và đồ án sinh viên xuất sắc…, song nhìn chung thể hiện sự hẫng hụt trong học thuật và lý luận của kiến trúc. Kiến trúc thời bao cấp không còn đáp ứng được xã hội. Kiến trúc mới chưa kịp ổn định thì gặp phải làn sóng dự án đầu tư vì mục đích thương mại, vùi lấp các mảng sáng để lại nhiều khoảng trống và miền tối trong sáng tác.Xem xét lại kinh nghiệm các nước đang phát triển đã trải qua thời kỳ tương tự cho thấy những vấn đề nảy sinh từ quá trình hiện đại hoá nhanh chóng đã thấy rõ qua nhưng ví dụ về kiến trúc Nhật Bản và Mỹ Latin ở đầu thế kỷ 20, trong những thập kỷ tiếp theo sau Chiến Tranh Thế Giới lần 2 rất nhiều vùng khác trên thế giới, đặc biệt là ở Châu Phi, và Trung và Viễn Đông cũng bị ảnh hưởng nặng nề bởi quá trình này. Ở đây phải lưu ý rằng đôi khi chủ nghĩa hiện đại được chào đón như là một công cụ có ích để chuyển biến xã hội ( như là ở Ấn Độ chẳng hạn). Nhưng đôi khi nó chỉ đơn giản là một phần trong dự án đầu tư mang tính quốc tế- trong trường hợp này, sự xuất hiện của nó thường được gắn với những công việc kính doanh quốc tế. Trong trường hợp công trình như vậy thường thô thiển và thiếu đi sự nhạy cảm của truyền thống , giá trị văn hoá và khí hậu địa phương. Thậm chí nếu ở đó có những kiến trúc sư say mê tái thể hiện những truyền thống địa phương, thì họ cũng sẽ gặp khó khăn trong việc tìm ra tính bản địa để thích ứng với những chức năng hiện đại. Điều này cũng đang xảy ra ở Việt Nam hiện nay.- Xung đột giữa cái mới và cái cũ luôn là một dạng khủng hoảng của quá trình công nghiệp hoá. Nhưng có ít nhất hai sự khác nhau cơ bản; trường hợp thứ nhất những quốc gia “tiến tiến” tự tạo ra cuôc cách mạng công nghiệp (industrial revolution); đã trải qua gần một thế kỷ để điều chỉnh những thay đổi có ảnh hưởng sâu rộng về mặt văn hoá và xã hội đi kèm với nó. Trường hợp thứ hai là các nước thế giới thứ 3 phát triển nhanh chóng trong thập kỷ 60s,70s và 80s (ví dụ như Iran và Nigeria, Hàn quốc, Malaysia…) với những công cụ có nguồn gốc kỹ thuật, vật liệu từ bên ngoài (trong đó có Kiến trúc). Không có gì ngạc nhiên rằng sự đảo lộn giữa cái mới và cũ, đô thị và nông thôn về mặt văn hoá xã hội có lẽ cũng xuất hiện cùng thời điểm này.- Người ta nhận thấy thời kỳ này những tầng lớp mới phất dường như muốn tách bản thân họ ra khỏi những giá trị lịch sử của quê hương họ để chạy theo cái gọi là “sự tự do tiêu dùng” của Phương Tây. Họ trở nên ham muốn những hình ảnh hào nhoáng, chú trọng vào sự phô trương và loè loẹt để có thể khẳng định vị thế riêng của mình. Trong khi các công trình Kiến trúc trông có vẻ bề ngoài hiện đại (không phải là kiến trúc hiện đại đích thực) còn đang được xem xét ở Phương Tây thì chúng đã trở nên thịnh hành ở thế giới thứ ba. Mỉa mai thay quá nhiều quốc gia vừa mới được giải phóng khỏi sự cai trị thuộc địa lại nhanh chóng bị thuyết phục sử dụng lại những dạng thức kiến trúc Phương Tây tầm thường đã lạc hậu ngay ở chính quốc, như trường hợp hội chứng Kiến trúc Pháp cổ ở Việt Nam chẳng hạn.- Thiết kế hiện đại mang tính quốc tế rẻ tiền với những tiêu chuẩn sáo rỗng- thường có nhứng tấm kính phẳng lớn, thịnh hành ở các nước nghèo thực chất là những ban công hình bầu dục, sảnh được chạy điều hoà với những cửa sổ kính mầu, những khung bê tông màu trắng.v.v… đang hút nguồn tài chính xây dựng của các quốc gia này, Le Corbusier đã đúng khi ông đưa ra ý kiến rằng máy móc đã gây ra một cuộc cách mạng tự thân của nó và cuộc cách mạng này thì đã vượt qua cả ý thức hệ xã hội. Kiến trúc hiện đại đang cố gắng giải quyết vấn đề của mình ở Phương Tây thì giờ đây đang gây ảnh hưởng ở những nơi đang phải.Vấn đề này có thể lý giải tại sao Việt Nam chưa thể có Kiến trúc riêng của mình như thời kỳ trước trong lịch sử. - Con đường để thoát khỏi bế tắc này là cố gắng kết hợp những giá trị bản địa và giá trị du nhập. Tuy nhiên phải tránh “Chủ nghĩa Bản Địa rởm” – với sự gắn kết một vài môtyt mang tính lịch sử bề nổi của nó. Có lẽ sự hợp lý hơn cả là cần tìm kiếm “chủ nghĩa hiện đại khu vực” (local modernism) đã bắt đầu ở một vài nước vào thập kỷ 30 và ở Việt Nam thông qua phong cách Đông Dương vào thời kỳ nay. Xu hướng này tiếp diễn dưới những hình thức khác vào những thập kỷ 40-50 trên thế giới, ở miền Nam Việt Nam những năm 60,70. Đây là nỗ lực nhằm rút những kinh nghịêm truyền thống địa phương và hoà trộn chúng với ngôn ngữ kiến trúc hiện đại có chọn lọc và kiểm chứng thông qua sự diễn giải Kiến trúc. Con đường tìm kiếm sự biểu đạt để thích ứng địa phương thành một hình thức hiện đại phù hợp với những điều kiện xã hội đang thay đổi sang công nghiệp hoá là một hướng đi hợp lý. Tuy nhiên không có một lối ra nào có thể đảm bảo thành công khi những người chưa đạt độ chín về chuyên môn đang nắm các cơ hội hành nghề gây nguy cơ tạo ra các kiến trúc không hài hoà giữa các biểu hiện truyền thống và hiện đại như trường hợp ở Việt Nam của chúng ta hiện nay.- Sự thông thương giữa những quốc gia đã công nghiệp hoá và đang công nghiệp hoá cũng đã có những sự xung đột về những cách thức thiết kế và xây dựng. Kiến trúc hiện đại cho rằng có một sự phân chia trong lao động giữa các kiến trúc sư, nhà sản xuất, kỹ sư và những người thợ xây dựng, nhưng ở nhiều nước “kém phát triển” có ít mức độ phân chia hơn Kiến trúc đắt tiền nhập khẩu, được sản xuất hàng loạt nhưng hoàn toàn không tính đến một chút kinh nghiệm và thực tế địa phương về xây dựng và lao động đây là van đề lớn. Kết quả các Kiến trúc hiện đại ở đây mâu thuẫn với những truyền thống thủ công lâu đời hàng thê kỷ trong việc xử lý kỹ thuật và vật liệu địa phương. Tính hợp lý thực tế của phong cách địa phương bị hạ thấp, và những chi tiết và những trực giác tinh tế của người thợ thủ công đã bị thay thế bởi những thành phần xây dựng mang tính công nghiệp xấu xí, hàng loạt và vô cảm. Đây cũng là nguyên nhân dẫn đến bộ mặt kiến trúc tạp nham hiện nay.Chúng ta có thể viện dẫn câu của Hanssan Fathy một kiến trúc sư khởi nguồn của xu hướng tìm tính địa phương trong Kiến trúc hiện đại : “Hiện đại không bắt buộc có nghĩa là sự xáo trộn, và sự thay đổi thị không phải luôn luôn để trở nên tốt hơn…Truyền thống thì không có nghĩa là lạc hậu và cũng không phải là sự đồng nghĩa với sự không phát triển … truyền thống là sự tương đồng mang tính xã hội của thói quen con người, và trong nghệ thuật nó có hiệu quả tương tự như giải phóng người nghệ sĩ khỏi những ảnh hưởng và những quyết định không cần thiết, để anh ta có thể tập trung toàn bộ cho những quyết định quan trong nhất trong tác phẩm”.Phần lớn các trào lưu kiến trúc đều là sản phẩm của xã hội. Những giá trị tôn giáo, khí hậu, công nghệ, và các cấu trúc chính trị xã hội quyết định yêu cầu và phong cách của Kiến trúc. Ngày nay với việc đi lại bằng máy bay, vơi những phương tiện thông tin liên lục địa, phim ảnh, các cấu trúc kinh tế toàn cầu và giao lưu văn hoá, thế giới trở nên nhỏ bé hơn và rất nhiều ảnh hưởng qui định phong cách mang tính quốc tế dựa trên công nghệ và kinh tế học… Nhưng ngay cả khi chấp nhận Phong Cánh Quốc Tế thì công nghệ và nhân tố kích thích từ bên ngoài, không nên thắng thế các nhân tố truyền thống. Các qui tắc mới đúng đắn trong thực tế Kiến trúc hiện đại là sự tìm kiếm tính địa phương, phù hợp với người dân và địa điểmKiến trúc sư – con người chủ thể với hoạt động sáng tạo là khâu then chốt tạo nên chất lượng Kiến trúc.Trở lại thực tế Việt Nam, chính sách mở cửa tạo điều kiện phát triển kinh tế và phồn vinh của đất nươc. Trong đó đáng kể nhất là sự giải phóng các động lực phát triển đô thị mà người ta thường gọi là trào lưu đô thị hoá. Chắc không ai hình dung ra sự mở rộng đến thế phạm vi các thành phố, thị xã và các dự án đô thị ở nước ta trong 10 năm qua. Đội ngũ kiến trúc sư nhờ vậy cũng trưởng thành nhanh chóng và đã đáp ứng đựơc nhu cầu thị trường thiết kế Quy hoạch - Kiến trúc.Trong thời kỳ mở của với các điều kiện phát triển đô thị như vậy lẽ ra bộ mặt Kiến trúc của Việt Nam phải có sự đổi mới cơ bản, Kiến trúc đương thời phải có những khu phố, công trình vượt trội, đánh dấu thời kỳ trưởng thành của Đô thị hiện đại, xứng với đồng tiền bỏ ra của nhân dân. Ngược lại với qui luật biện chứng thống nhất giữa điều kiện vật chất và tinh thần của xã hội dô thị Kiến trúc lại thiếu những tác phẩm lớn thiếu sự tác động của yếu tố con người- kiến trúc sư và chủ thể sáng tác trong các tác phẩm.Trong các giai đoạn trươc, nền kinh tế suy giảm vị chiến tranh và bao cấp, phương tiện vật chất cho Kiến trúc rất thơ sơ, lạc hậu nhưng các giá trị tinh thần vẫn được duy trì trong các sáng tác (Các giải thưởng quốc tế có uy tín mang đậm tính nhân văn của người Việt – làng nổi, làng sinh thái, giữ gìn phố cổ Hà Nội …) Trong cuốn sách “Từ hiện đại đến truyền thống” rất nổi tiếng của GS. Trần Đình Hượu đã chỉ ra nhiều yếu tố quyết định bản chất của dân tộc - hiện đại trong quá trình hiện đại hoá. Trong đó yếu tố gốc để xây dựng con người chủ thể của quá trình đó là xã hội hoá. May mắn thay giới Kiến trúc gần như đi đầu trong việc xã hội hoá các nghành nghề chuyên môn ở Việt Nam. Đáng lẽ điều này phải trở thành điểm mạnh để đạt đến các tác phẩm có thể làm nên thế hệ thứ 3, thứ 4 sáng tạo Kiến trúc.Cũng thử nhìn nhận vài nét về con người sáng tác Kiến trúc hiện nay tại Việt Nam:Việc hành nghề Kiến trúc “được” coi là một dạng dịch vụ trong cơ chế thị trường nên các tổ chức tư van thiết kế trở thành đon vị kinh doanh dịch vụ, khiến các kiến trúc sư trước hết phải lo hiệu quả kinh tế và chịu sức ép rất lớn về vật chất, đẩy nhiệm vụ sáng tác xuống thứ yếu. Hơn nữa, người kiến trúc sư không có cơ hội và điều kiện để bảo vệ thành quả lao động sáng tạo của mình. Sức ép về tiến độ thời gian cộng với sự hạn chế về nhân lực trong mỗi tổ chức thiết kế làm cho người thiết kế ít có điều kiện được làm việc toàn vẹn như ý muốn.- Hoạt động tư vấn thiết kế đã chịu sự khống chế về quản lý nhà nước (bởi Luật xây dựng, Tiêu chuẩn & Quy phạm xây dựng, Điều lệ Quản lý xây dựng cơ bản,…) còn bị ràng buộc bởi nhiều cơ quan quản lý (vốn đầu tư, thẩm định & cấp phép, quy hoạch – Kiến trúc, địa chính, môi trường ,…) Công tác quản lý xây dựng cơ bản được tăng cường nhưng lại tạo nhiều phiền phức cho công tác thiết kế. Trình tự phê duyệt một dự án phải qua nhiều cấp, nhiều thủ tục, nhưng không thực sự hiệu quả, chẳng những không phát huy được sáng tạo nghệ thuật mà còn tạo ra những khuôn mẫu máy móc mà chất lượng chỉ đạt mức trung bình.- Người kiến trúc sư thiết kế còn bị ràng buộc quá nhiều trách nhiệm (ngoài phạm vi chuyên môn), bị lệ thuộc quá nhiều vào chủ đầu tư và các cơ quan quản lý (về thủ tục và tài chính). Vai trò chủ thể của người kiến trúc sư lại bị xem nhẹ, lao động sáng tạo của kiến trúc sư chưa được đánh giá đúng mức: đơn giá thiết kế quá thấp ( chỉ bằng 1/3-1/4 của nước ngoài), mức chi phí thực tế còn thấp hơn nữa. Vai trò phản biện xã hội của Hội kiến trúc sư và tiếng nói chuyên môn của giới kiến trúc sư nói chung chưa được coi trọng khiến cho kiến trúc sư không có điều kiện phát triển nhân cách độc lập – là phẩm chất hàng đầu của con người chủ thể trong sáng tạo. Có lẽ đây là nguyên nhân chính có thể giải thích phần nào sự đáng buồn của bộ mặt Kiến trúc đô thị của Việt Nam hôm nay.
Đẹp Fashion show 6: Thăng hoa từ kiến trúc đương đại

Đẹp Fashion show 6: Thăng hoa từ kiến trúc đương đại
Hình ảnh của DFS 6.
(Dân trí) - Năm show diễn đẳng cấp đã đi qua, dấu ấn không thể phai mờ của những “Cơn ác mộng của người thợ may”, “Thời trang và ánh sáng”… đã thôi thúc Đẹp Fashion Show trở lại với chủ đề “Cảm hứng đương đại” (Urban Inspiration), với những ảnh hưởng ấn tượng đầy ngẫu hứng của kiến trúc…
Lần tái ngộ này, Đẹp Fashion Show (diễn ra vào tối 28/12), mang phong cách trình diễn thời trang kinh điển, không cầu kỳ ở nội dung như những vở thời trang trước, nhưng tạo ấn tượng bởi lần đầu tiên mang tới sự kết hợp hài hòa và tinh tế giữa hai lĩnh vực nghệ thuật đều coi trọng tính sáng tạo rất cao là thời trang và kiến trúc. Đây cũng là lần đầu tiên, trên sàn catwalk, người xem sẽ được chứng kiến xu thế đương đại của kiến trúc thể hiện trong thời trang, và ngược lại, thời trang hội tụ và hiện thực hóa những đặc thù của kiến trúc một cách kỳ thú.
Nhà thiết kế cũng sẽ giống như kiến trúc sư, dùng óc sáng tạo và tài năng của mình để tạo nên một kết cấu kiến trúc đặc biệt - kiến trúc thời trang dành cho cơ thể con người. Đó quả thực sẽ là nơi giao thoa giữa hai lĩnh vực nghệ thuật lớn, để thăng hoa vẻ đẹp của một nghệ thuật thứ ba đặc biệt có cá tính của hình khối, đường nét và uyển chuyển, cuốn hút của màu sắc và chất liệu…, tất cả những gì làm sinh động hình ảnh đương đại đa chiều.

Ý tưởng “Cảm hứng đương đại” của Đẹp Fashion Show (DFS) 6 mang đậm dấu ấn kiến trúc của Tadao Ando rất nổi tiếng tại Nhật Bản với tính chất đơn giản mà hiện đại, với sự kết hợp vô cùng khéo léo và hài hòa giữa các yếu tố cấu trúc và chất liệu, khí và ánh sáng. Cả không gian của thời trang sẽ hòa quyện trong không gian của kiến trúc Tadao Ando, mang lại cảm giác vừa mới lạ vừa hấp dẫn mạnh mẽ. Ngôn ngữ của thời trang sẽ thống nhất cùng ngôn ngữ của kiến trúc tạo nên những đột phá bất ngờ với sự kết nối của các đường thẳng, những nhát cắt, đường cong tạo ra cấu trúc đẹp của những sản phẩm sáng tạo.
Tại Đẹp Fashion Show 6 - “Cảm hứng đương đại”, nhà thiết kế Võ Phan Huy - tác giả bộ sưu tập “Nốt trầm trong khuông nhạc đêm” sẽ không thể tham gia vì anh không thể mua vé máy bay từ nước ngoài về Việt Nam kịp. Võ Phan Huy tỏ ra rất nuối tiếc vì lỡ hẹn với chương trình thời trang đẳng cấp này và mong muốn được tham gia vào những show diễn sau. Như vậy, sẽ chỉ còn có 5 nhà thiết kế tham gia chương trình là Đỗ Mạnh Cường, Hoàng Ngân, Trương Thanh Hải, Mai Lâm và Nguyễn Đức Duy.
Cùng với tạp chí Đẹp, toàn bộ ê-kíp lần này, với nhiều tên tuổi quen thuộc và đã thành danh như: Hương Colour (giám đốc sáng tạo), Xuân Lan (đạo diễn Catwalk), Trí Minh (âm nhạc), Dũng Martin (ánh sáng), Phạm Hoàng Nam (cố vấn dàn dựng), và sự góp mặt của tài năng kiến trúc trẻ của Việt Nam - kiến trúc sư Nguyễn Hoàng Hiệp với sáng tạo dành cho không gian của DFS 6 sắp tới. Được biết, Samsung tiếp tục là nhà tài trợ chính cho chương trình DFS, bên cạnh đó còn có Lancôme - nhà tài trợ trang điểm và Relligio - nhà tài trợ giày dép & phụ kiện…
Show trình diễn đã thành thương hiệu nổi tiếng DFS sẽ diễn ra vào hồi 20 giờ, ngày 28/12 tại nhà hát truyền hình HTV.
P.V
Tháp Truyền thông Montjuic & Nhà ga Lyon
Tháp Truyền thông Montjuic
Tháp truyền thống Montjuic (Torre Telefónica) là một tháp viễn thông tại khu lân cận Montjuïc của Barcelona, Tây Ban Nha. Do Santiago Calatrava thiết kế, công việc xây dựng tháp bắt đầu năm 1989 và được hoàn thành năm 1992. Tháp màu trắng được xây dựng cho Telefónica để phủ sóng truyền hình Thế vận hội Olympic Mùa hè năm 1992 tại Barcelona. Tháp cao136m (446 feet) tọa lạc tại khu Olympic và tiêu biểu cho một lực sĩ đang cầm ngọn lửa Olympic. Đế tháp được lát bằng 'trencadís', tức kỹ thuật khảm của Gaudí được tạo ra bằng những miếng ngói vỡ.

Do sự định hướng của tháp, nó hoạt động như một đồng hồ mặt trời khổng lồ mà sử dụng quảng trường Europa để định giờ. Các góc nhìn khác nhau về Tháp truyền thống Montjuic(ảnh structurae): 








Tìm về bản sắc Văn hóa Việt Nam
Tìm kiếm bản sắc dân tộc cũng giống như đi tìm hồn quê. Đó là cuộc kiếm tìm nhiều khi thật vô vọng. Ít ai không cảm nhận được nó, thấy nó là một hiện hữu, một hiện thực. Nhưng tới gần thì nó cứ như bóng trong gương, trăng đáy nước, ảo ảnh trên sa mạc. Người tìm kiếm luôn phải đối diện với những câu hỏi nát óc: bản sắc là đơn thể hay tổng thể? thuộc nội dung hay hình thức? là thuộc tính hay phẩm chất? gồm cả tiêu cực hay chỉ thuần tích cực? là di sản hay luôn là tài sản? bất biến hay hằng biến? đóng hay mở? chỉ là kết tinh hay luôn là quá trình? là bệ phóng hay rào cản? chỉ khư khư giữ lấy hay cần cả cải cách làm mới? v.v... Dường như đó là vấn đề luôn làm vô vọng mọi nỗ lực nắm bắt thì phải. Nó chỉ cho người ta đến gần, chỉ tiệm cận chứ khó mà tiếp cận, khó mà chiếm lĩnh.
Xung quanh câu hỏi về nguồn gốc, có người muốn tìm những yếu tố qui định bản sắc một dân tộc. Như vấn đề môi trường sinh thái, vấn đề văn hóa và lịch sử, thậm chí, vấn đề gene. Nhiều người đã nghĩ đến yếu tố Nho giáo trong văn hóa và yếu tố tiểu nông trong sản xuất như là những nhân tố quan trọng qui định, chi phối bản sắc Việt... Tôi quan tâm nhiều hơn đến câu hỏi về bản chất. Để trả lời câu hỏi bản sắc là gì, trước đây, người ta thường nghiêng về tìm kiếm các đơn thể. Đến nay, việc chỉ ra một số cái này hay cái kia, rồi bảo rằng đó là bản sắc của dân tộc không còn là cách nhận diện tin cậy nữa rồi. Giữa cái và kiểu, xem ra bản sắc thật, nghiêng về kiểu nhiều hơn. Người Việt mình tài hoa. Đúng rồi. Nhưng bảo đó là bản sắc thì không đúng. Nói thế khác nào bảo người các dân tộc khác không tài hoa, khác nào xem tài hoa là độc quyền của người Việt. May chăng, có thể thấy dấu ấn nằm ở kiểu. Tài hoa kiểu này ra người Trung Quốc, tài hoa kiểu kia ra người Khơmer, tài hoa kiểu nọ ra người Nhật Bản, tài hoa kiểu khác ra người Việt Nam... Vì thế, ở phần tích cực, phần ưu điểm, bản sắc không chỉ nằm ở các giá trị, mà còn nằm ở cung cách tạo ra các giá trị, lựa chọn các giá trị nữa.
Tôi nghĩ, vẫn về phần tích cực thôi, bản sắc nằm nhiều ở kiểu lựa chọn những giá trị sống. Nói giá trị sống là nói giá trị tổng quát, có khả năng bao trùm tất cả mọi khía cạnh của việc sống và sáng tạo đối với mỗi cá thể cũng như đối với từng cộng đồng (nó không đơn thuần chỉ là 12 giá trị mà chương trình giá trị cuộc sống của Liên hợp quốc chủ trương). Việc cá nhân hay cộng đồng chọn loại giá trị này mà không chọn loại giá trị khác, xem trọng loại giá trị này hơn loại giá trị khác, chính là một khía cạnh quan trọng của bản sắc. Do đó, nếu xem bản sắc bao giờ cũng có phía kết tinh và phía biến đổi, thì nội dung các giá trị là phần dễ biến đổi (động), còn kiểu lựa chọn các giá trị khó biến đổi hơn (tĩnh). Có thể so sánh tương quan giữa giá trị và kiểu lựa chọn các giá trị trong bản sắc văn hóa với tương quan giữa phần ngữ pháp và từ vựng trong một ngôn ngữ. Ngữ pháp là phần tương đối ổn định, từ vựng thì biến đổi không ngừng. Vì thế, có thể xem kiểu lựa chọn như là một hạt nhân tương đối ổn định, giúp định dạng cho phía kết tinh của bản sắc. Không có sự định dạng này, thì cũng không thể có cái gọi là bản sắc.
Song, dù là hạt nhân chi phối việc lựa chọn giá trị, nhưng kiểu lựa chọn này cũng không hoàn toàn nhất thành bất biến. Nó chỉ là phần ổn định hơn cả để có thể có một định dạng nào đó cho bản sắc mà thôi. Bản thân nó cũng không thể không biến đổi, dù biến đổi khó hơn, chậm hơn. Vì thế, tôi tin rằng bản sắc của một dân tộc cũng như một cá thể nằm rất nhiều ở quá trình: quá trình liên tục lựa chọn để tự phủ định và khẳng định nhằm vừa định dạng vừa làm mới khuôn mặt của mình trong không gian và thời gian. Tức là một quá trình tích cực nhằm sáng tạo ra chính mình.
Đời sống văn hoá của con người trong ngôi nhà ở gồm đời sống văn hoá cá nhân và đời sống văn hoá gia đình. Mỗi con người trong mỗi gia đình vừa có những hoạt động văn hoá riêng, vừa tham gia những hoạt động văn hoá tập thể cùng các thành viên trong gia đình. Chính những hoạt động tập thể dựa trên một hệ thống các chuẩn mực và các giá trị chung đã liên kết các thành viên trong gia đình lại thành một đơn vị cộng đồng gắn bó.
Đời sống văn hoá cá nhân đòi hỏi có không gian cho những hoạt động riêng tư, đời sống văn hoá gia đình đòi hỏi có không gian cho những hoạt động tập thể của mọi thành viên trong gia đình. Vì vậy, trong mỗi ngôi nhà ở cần có những phòng riêng cho sinh hoạt cá nhân để hoạt động riêng của người này không ảnh hưởng đến người khác, và những phòng chung cho sinh hoạt tập thể gia đình như làm việc, ăn uống, tiếp khách….Mỗi ngôi nhà hay một căn hộ quá nhỏ sẽ hạn chế các hoạt động văn hoá của các thành viên, kìm giữ đời sống văn hoá gia đình ở trình độ thấp. Với ý nghĩa đó mà người ta cho rằng cộng đồng nhà ở, nhất là nhà ở đô thị là thước đo sự thịnh vượng, thể hiện cấu trúc bên trong của nền văn hoá, thậm chí cả nền văn minh của dân tộc.
Chính yêu cầu phân chia và bố cụa không gian một ngôi nhà ở theo các hoạt động văn hoá riêng tư và các hoạt động văn hoá tập thể đã làm cho nghệ thuật kiến trúc nhà ở ra đời. Dĩ nhiên, đời sống văn hoá của con người không thể bó hẹp trong không gian ngôi nhà ở. Con người còn sống thành cộng đồng lớn và tổ chức cộng đồng thành xã hội. Những con người trong cùng một cộng đồng lại có những hoạt động văn hoá tập thể dựa trên một hệ thống các gia trị và chuẩn mực chung cho cộng đồng đó, và như thế họ có thêm đời sống văn hoá cộng đồng. Những hoạt động này không những liên kết họ thành một khối mà còn làm cho họ mang những nét chung trong đời sống văn hoá của mỗi người và những sản phẩm từ các hoạt động văn hoá của họ cũng mang những nét chung đặc trưng cho cộng đồng, cái mà ta gọi là bản sắc văn hoá cộng đồng hay BẢN SẮC DÂN TỘC.
Một trong những sản phẩm đó là kiến trúc. Từ xưa, bản sắc dân tộc trong kiến trúc thường được thể hiện ở vật liệu đại phương, ở sự phù hợp với đìâu kiện khí hậu, địa lý đại phương, lối sống, phong tục tập quán, tín ngưỡng và những quan niệm triết lý của người đại phương, ở những hình thức và chi tiết kiến trúc địa phương. Ngày nay trong xu thế toàn cầu hoá, kỹ thuât5 công nghệ và các vật liệu xây dựng địa phương truền thống sẽ bị thay thế bởi kỹ thuật – công nghệ hiện đại và các vật liệu có tính quốc tế. Ba yếu tố đó tạo thành tính hiện đại trong kiến trúc. Như vậy tính dân tộc trong kiến trúc bị thu hẹp phạm vi trong sự phù hợp với điều kiện địa lý, khí hậu, lối sống, tín ngưỡng của người bản địa. Nhưng tất cả các yếu tố đó đều được thể hiện trong đời sống văn hoá của các thành viên trong cộng đồng….nên bản sắc dân tộc của kiến trúc chỉ có thể được phản ánh, được tìm thấy ở cái không gian ngôi nhà, không gian của ngôi nhà Việt Nam phải được bố cục sao cho phù hợp với đời sống văn hoá của người Việt Nam.
Bản sắc không phải là cái gì nhất thành nhất biến. Văn hoá dân tộc luôn là sản phẩm của sự hội nhập các yếu tố văn hoá từ các miền địa lý khác nhau và kết hợp các yếu tố này như thế nào còn tuỳ thuộc. Kiến trúc là một bộ phận của văn hoá nên cũng là sản phẩm tích hợp ngẫu nhiên của các yếu tố lịch sử, các yếu tố nội sinh và các yếu tố bên ngoài.
Đời sống văn hoá của con người trong ngôi nhà ở gồm đời sống văn hoá cá nhân và đời sống văn hoá gia đình. Mỗi con người trong mỗi gia đình vừa có những hoạt động văn hoá riêng, vừa tham gia những hoạt động văn hoá tập thể cùng các thành viên trong gia đình. Chính những hoạt động tập thể dựa trên một hệ thống các chuẩn mực và các giá trị chung đã liên kết các thành viên trong gia đình lại thành một đơn vị cộng đồng gắn bó.
Đời sống văn hoá cá nhân đòi hỏi có không gian cho những hoạt động riêng tư, đời sống văn hoá gia đình đòi hỏi có không gian cho những hoạt động tập thể của mọi thành viên trong gia đình. Vì vậy, trong mỗi ngôi nhà ở cần có những phòng riêng cho sinh hoạt cá nhân để hoạt động riêng của người này không ảnh hưởng đến người khác, và những phòng chung cho sinh hoạt tập thể gia đình như làm việc, ăn uống, tiếp khách….Mỗi ngôi nhà hay một căn hộ quá nhỏ sẽ hạn chế các hoạt động văn hoá của các thành viên, kìm giữ đời sống văn hoá gia đình ở trình độ thấp. Với ý nghĩa đó mà người ta cho rằng cộng đồng nhà ở, nhất là nhà ở đô thị là thước đo sự thịnh vượng, thể hiện cấu trúc bên trong của nền văn hoá, thậm chí cả nền văn minh của dân tộc.
Chính yêu cầu phân chia và bố cụa không gian một ngôi nhà ở theo các hoạt động văn hoá riêng tư và các hoạt động văn hoá tập thể đã làm cho nghệ thuật kiến trúc nhà ở ra đời. Dĩ nhiên, đời sống văn hoá của con người không thể bó hẹp trong không gian ngôi nhà ở. Con người còn sống thành cộng đồng lớn và tổ chức cộng đồng thành xã hội. Những con người trong cùng một cộng đồng lại có những hoạt động văn hoá tập thể dựa trên một hệ thống các gia trị và chuẩn mực chung cho cộng đồng đó, và như thế họ có thêm đời sống văn hoá cộng đồng. Những hoạt động này không những liên kết họ thành một khối mà còn làm cho họ mang những nét chung trong đời sống văn hoá của mỗi người và những sản phẩm từ các hoạt động văn hoá của họ cũng mang những nét chung đặc trưng cho cộng đồng, cái mà ta gọi là bản sắc văn hoá cộng đồng hay BẢN SẮC DÂN TỘC.
Một trong những sản phẩm đó là kiến trúc. Từ xưa, bản sắc dân tộc trong kiến trúc thường được thể hiện ở vật liệu đại phương, ở sự phù hợp với đìâu kiện khí hậu, địa lý đại phương, lối sống, phong tục tập quán, tín ngưỡng và những quan niệm triết lý của người đại phương, ở những hình thức và chi tiết kiến trúc địa phương. Ngày nay trong xu thế toàn cầu hoá, kỹ thuât5 công nghệ và các vật liệu xây dựng địa phương truền thống sẽ bị thay thế bởi kỹ thuật – công nghệ hiện đại và các vật liệu có tính quốc tế. Ba yếu tố đó tạo thành tính hiện đại trong kiến trúc. Như vậy tính dân tộc trong kiến trúc bị thu hẹp phạm vi trong sự phù hợp với điều kiện địa lý, khí hậu, lối sống, tín ngưỡng của người bản địa. Nhưng tất cả các yếu tố đó đều được thể hiện trong đời sống văn hoá của các thành viên trong cộng đồng….nên bản sắc dân tộc của kiến trúc chỉ có thể được phản ánh, được tìm thấy ở cái không gian ngôi nhà, không gian của ngôi nhà Việt Nam phải được bố cục sao cho phù hợp với đời sống văn hoá của người Việt Nam.
Bản sắc không phải là cái gì nhất thành nhất biến. Văn hoá dân tộc luôn là sản phẩm của sự hội nhập các yếu tố văn hoá từ các miền địa lý khác nhau và kết hợp các yếu tố này như thế nào còn tuỳ thuộc. Kiến trúc là một bộ phận của văn hoá nên cũng là sản phẩm tích hợp ngẫu nhiên của các yếu tố lịch sử, các yếu tố nội sinh và các yếu tố bên ngoài.
Đời sống văn hoá của con người trong ngôi nhà ở gồm đời sống văn hoá cá nhân và đời sống văn hoá gia đình. Mỗi con người trong mỗi gia đình vừa có những hoạt động văn hoá riêng, vừa tham gia những hoạt động văn hoá tập thể cùng các thành viên trong gia đình. Chính những hoạt động tập thể dựa trên một hệ thống các chuẩn mực và các giá trị chung đã liên kết các thành viên trong gia đình lại thành một đơn vị cộng đồng gắn bó.
Đời sống văn hoá cá nhân đòi hỏi có không gian cho những hoạt động riêng tư, đời sống văn hoá gia đình đòi hỏi có không gian cho những hoạt động tập thể của mọi thành viên trong gia đình. Vì vậy, trong mỗi ngôi nhà ở cần có những phòng riêng cho sinh hoạt cá nhân để hoạt động riêng của người này không ảnh hưởng đến người khác, và những phòng chung cho sinh hoạt tập thể gia đình như làm việc, ăn uống, tiếp khách….Mỗi ngôi nhà hay một căn hộ quá nhỏ sẽ hạn chế các hoạt động văn hoá của các thành viên, kìm giữ đời sống văn hoá gia đình ở trình độ thấp. Với ý nghĩa đó mà người ta cho rằng cộng đồng nhà ở, nhất là nhà ở đô thị là thước đo sự thịnh vượng, thể hiện cấu trúc bên trong của nền văn hoá, thậm chí cả nền văn minh của dân tộc.
Chính yêu cầu phân chia và bố cụa không gian một ngôi nhà ở theo các hoạt động văn hoá riêng tư và các hoạt động văn hoá tập thể đã làm cho nghệ thuật kiến trúc nhà ở ra đời. Dĩ nhiên, đời sống văn hoá của con người không thể bó hẹp trong không gian ngôi nhà ở. Con người còn sống thành cộng đồng lớn và tổ chức cộng đồng thành xã hội. Những con người trong cùng một cộng đồng lại có những hoạt động văn hoá tập thể dựa trên một hệ thống các gia trị và chuẩn mực chung cho cộng đồng đó, và như thế họ có thêm đời sống văn hoá cộng đồng. Những hoạt động này không những liên kết họ thành một khối mà còn làm cho họ mang những nét chung trong đời sống văn hoá của mỗi người và những sản phẩm từ các hoạt động văn hoá của họ cũng mang những nét chung đặc trưng cho cộng đồng, cái mà ta gọi là bản sắc văn hoá cộng đồng hay BẢN SẮC DÂN TỘC.
Một trong những sản phẩm đó là kiến trúc. Từ xưa, bản sắc dân tộc trong kiến trúc thường được thể hiện ở vật liệu đại phương, ở sự phù hợp với đìâu kiện khí hậu, địa lý đại phương, lối sống, phong tục tập quán, tín ngưỡng và những quan niệm triết lý của người đại phương, ở những hình thức và chi tiết kiến trúc địa phương. Ngày nay trong xu thế toàn cầu hoá, kỹ thuât5 công nghệ và các vật liệu xây dựng địa phương truền thống sẽ bị thay thế bởi kỹ thuật – công nghệ hiện đại và các vật liệu có tính quốc tế. Ba yếu tố đó tạo thành tính hiện đại trong kiến trúc. Như vậy tính dân tộc trong kiến trúc bị thu hẹp phạm vi trong sự phù hợp với điều kiện địa lý, khí hậu, lối sống, tín ngưỡng của người bản địa. Nhưng tất cả các yếu tố đó đều được thể hiện trong đời sống văn hoá của các thành viên trong cộng đồng….nên bản sắc dân tộc của kiến trúc chỉ có thể được phản ánh, được tìm thấy ở cái không gian ngôi nhà, không gian của ngôi nhà Việt Nam phải được bố cục sao cho phù hợp với đời sống văn hoá của người Việt Nam.
Bản sắc không phải là cái gì nhất thành nhất biến. Văn hoá dân tộc luôn là sản phẩm của sự hội nhập các yếu tố văn hoá từ các miền địa lý khác nhau và kết hợp các yếu tố này như thế nào còn tuỳ thuộc. Kiến trúc là một bộ phận của văn hoá nên cũng là sản phẩm tích hợp ngẫu nhiên của các yếu tố lịch sử, các yếu tố nội sinh và các yếu tố bên ngoài.
Xung quanh câu hỏi về nguồn gốc, có người muốn tìm những yếu tố qui định bản sắc một dân tộc. Như vấn đề môi trường sinh thái, vấn đề văn hóa và lịch sử, thậm chí, vấn đề gene. Nhiều người đã nghĩ đến yếu tố Nho giáo trong văn hóa và yếu tố tiểu nông trong sản xuất như là những nhân tố quan trọng qui định, chi phối bản sắc Việt... Tôi quan tâm nhiều hơn đến câu hỏi về bản chất. Để trả lời câu hỏi bản sắc là gì, trước đây, người ta thường nghiêng về tìm kiếm các đơn thể. Đến nay, việc chỉ ra một số cái này hay cái kia, rồi bảo rằng đó là bản sắc của dân tộc không còn là cách nhận diện tin cậy nữa rồi. Giữa cái và kiểu, xem ra bản sắc thật, nghiêng về kiểu nhiều hơn. Người Việt mình tài hoa. Đúng rồi. Nhưng bảo đó là bản sắc thì không đúng. Nói thế khác nào bảo người các dân tộc khác không tài hoa, khác nào xem tài hoa là độc quyền của người Việt. May chăng, có thể thấy dấu ấn nằm ở kiểu. Tài hoa kiểu này ra người Trung Quốc, tài hoa kiểu kia ra người Khơmer, tài hoa kiểu nọ ra người Nhật Bản, tài hoa kiểu khác ra người Việt Nam... Vì thế, ở phần tích cực, phần ưu điểm, bản sắc không chỉ nằm ở các giá trị, mà còn nằm ở cung cách tạo ra các giá trị, lựa chọn các giá trị nữa.
Tôi nghĩ, vẫn về phần tích cực thôi, bản sắc nằm nhiều ở kiểu lựa chọn những giá trị sống. Nói giá trị sống là nói giá trị tổng quát, có khả năng bao trùm tất cả mọi khía cạnh của việc sống và sáng tạo đối với mỗi cá thể cũng như đối với từng cộng đồng (nó không đơn thuần chỉ là 12 giá trị mà chương trình giá trị cuộc sống của Liên hợp quốc chủ trương). Việc cá nhân hay cộng đồng chọn loại giá trị này mà không chọn loại giá trị khác, xem trọng loại giá trị này hơn loại giá trị khác, chính là một khía cạnh quan trọng của bản sắc. Do đó, nếu xem bản sắc bao giờ cũng có phía kết tinh và phía biến đổi, thì nội dung các giá trị là phần dễ biến đổi (động), còn kiểu lựa chọn các giá trị khó biến đổi hơn (tĩnh). Có thể so sánh tương quan giữa giá trị và kiểu lựa chọn các giá trị trong bản sắc văn hóa với tương quan giữa phần ngữ pháp và từ vựng trong một ngôn ngữ. Ngữ pháp là phần tương đối ổn định, từ vựng thì biến đổi không ngừng. Vì thế, có thể xem kiểu lựa chọn như là một hạt nhân tương đối ổn định, giúp định dạng cho phía kết tinh của bản sắc. Không có sự định dạng này, thì cũng không thể có cái gọi là bản sắc.
Song, dù là hạt nhân chi phối việc lựa chọn giá trị, nhưng kiểu lựa chọn này cũng không hoàn toàn nhất thành bất biến. Nó chỉ là phần ổn định hơn cả để có thể có một định dạng nào đó cho bản sắc mà thôi. Bản thân nó cũng không thể không biến đổi, dù biến đổi khó hơn, chậm hơn. Vì thế, tôi tin rằng bản sắc của một dân tộc cũng như một cá thể nằm rất nhiều ở quá trình: quá trình liên tục lựa chọn để tự phủ định và khẳng định nhằm vừa định dạng vừa làm mới khuôn mặt của mình trong không gian và thời gian. Tức là một quá trình tích cực nhằm sáng tạo ra chính mình.
Đời sống văn hoá của con người trong ngôi nhà ở gồm đời sống văn hoá cá nhân và đời sống văn hoá gia đình. Mỗi con người trong mỗi gia đình vừa có những hoạt động văn hoá riêng, vừa tham gia những hoạt động văn hoá tập thể cùng các thành viên trong gia đình. Chính những hoạt động tập thể dựa trên một hệ thống các chuẩn mực và các giá trị chung đã liên kết các thành viên trong gia đình lại thành một đơn vị cộng đồng gắn bó.
Đời sống văn hoá cá nhân đòi hỏi có không gian cho những hoạt động riêng tư, đời sống văn hoá gia đình đòi hỏi có không gian cho những hoạt động tập thể của mọi thành viên trong gia đình. Vì vậy, trong mỗi ngôi nhà ở cần có những phòng riêng cho sinh hoạt cá nhân để hoạt động riêng của người này không ảnh hưởng đến người khác, và những phòng chung cho sinh hoạt tập thể gia đình như làm việc, ăn uống, tiếp khách….Mỗi ngôi nhà hay một căn hộ quá nhỏ sẽ hạn chế các hoạt động văn hoá của các thành viên, kìm giữ đời sống văn hoá gia đình ở trình độ thấp. Với ý nghĩa đó mà người ta cho rằng cộng đồng nhà ở, nhất là nhà ở đô thị là thước đo sự thịnh vượng, thể hiện cấu trúc bên trong của nền văn hoá, thậm chí cả nền văn minh của dân tộc.
Chính yêu cầu phân chia và bố cụa không gian một ngôi nhà ở theo các hoạt động văn hoá riêng tư và các hoạt động văn hoá tập thể đã làm cho nghệ thuật kiến trúc nhà ở ra đời. Dĩ nhiên, đời sống văn hoá của con người không thể bó hẹp trong không gian ngôi nhà ở. Con người còn sống thành cộng đồng lớn và tổ chức cộng đồng thành xã hội. Những con người trong cùng một cộng đồng lại có những hoạt động văn hoá tập thể dựa trên một hệ thống các gia trị và chuẩn mực chung cho cộng đồng đó, và như thế họ có thêm đời sống văn hoá cộng đồng. Những hoạt động này không những liên kết họ thành một khối mà còn làm cho họ mang những nét chung trong đời sống văn hoá của mỗi người và những sản phẩm từ các hoạt động văn hoá của họ cũng mang những nét chung đặc trưng cho cộng đồng, cái mà ta gọi là bản sắc văn hoá cộng đồng hay BẢN SẮC DÂN TỘC.
Một trong những sản phẩm đó là kiến trúc. Từ xưa, bản sắc dân tộc trong kiến trúc thường được thể hiện ở vật liệu đại phương, ở sự phù hợp với đìâu kiện khí hậu, địa lý đại phương, lối sống, phong tục tập quán, tín ngưỡng và những quan niệm triết lý của người đại phương, ở những hình thức và chi tiết kiến trúc địa phương. Ngày nay trong xu thế toàn cầu hoá, kỹ thuât5 công nghệ và các vật liệu xây dựng địa phương truền thống sẽ bị thay thế bởi kỹ thuật – công nghệ hiện đại và các vật liệu có tính quốc tế. Ba yếu tố đó tạo thành tính hiện đại trong kiến trúc. Như vậy tính dân tộc trong kiến trúc bị thu hẹp phạm vi trong sự phù hợp với điều kiện địa lý, khí hậu, lối sống, tín ngưỡng của người bản địa. Nhưng tất cả các yếu tố đó đều được thể hiện trong đời sống văn hoá của các thành viên trong cộng đồng….nên bản sắc dân tộc của kiến trúc chỉ có thể được phản ánh, được tìm thấy ở cái không gian ngôi nhà, không gian của ngôi nhà Việt Nam phải được bố cục sao cho phù hợp với đời sống văn hoá của người Việt Nam.
Bản sắc không phải là cái gì nhất thành nhất biến. Văn hoá dân tộc luôn là sản phẩm của sự hội nhập các yếu tố văn hoá từ các miền địa lý khác nhau và kết hợp các yếu tố này như thế nào còn tuỳ thuộc. Kiến trúc là một bộ phận của văn hoá nên cũng là sản phẩm tích hợp ngẫu nhiên của các yếu tố lịch sử, các yếu tố nội sinh và các yếu tố bên ngoài.
Đời sống văn hoá của con người trong ngôi nhà ở gồm đời sống văn hoá cá nhân và đời sống văn hoá gia đình. Mỗi con người trong mỗi gia đình vừa có những hoạt động văn hoá riêng, vừa tham gia những hoạt động văn hoá tập thể cùng các thành viên trong gia đình. Chính những hoạt động tập thể dựa trên một hệ thống các chuẩn mực và các giá trị chung đã liên kết các thành viên trong gia đình lại thành một đơn vị cộng đồng gắn bó.
Đời sống văn hoá cá nhân đòi hỏi có không gian cho những hoạt động riêng tư, đời sống văn hoá gia đình đòi hỏi có không gian cho những hoạt động tập thể của mọi thành viên trong gia đình. Vì vậy, trong mỗi ngôi nhà ở cần có những phòng riêng cho sinh hoạt cá nhân để hoạt động riêng của người này không ảnh hưởng đến người khác, và những phòng chung cho sinh hoạt tập thể gia đình như làm việc, ăn uống, tiếp khách….Mỗi ngôi nhà hay một căn hộ quá nhỏ sẽ hạn chế các hoạt động văn hoá của các thành viên, kìm giữ đời sống văn hoá gia đình ở trình độ thấp. Với ý nghĩa đó mà người ta cho rằng cộng đồng nhà ở, nhất là nhà ở đô thị là thước đo sự thịnh vượng, thể hiện cấu trúc bên trong của nền văn hoá, thậm chí cả nền văn minh của dân tộc.
Chính yêu cầu phân chia và bố cụa không gian một ngôi nhà ở theo các hoạt động văn hoá riêng tư và các hoạt động văn hoá tập thể đã làm cho nghệ thuật kiến trúc nhà ở ra đời. Dĩ nhiên, đời sống văn hoá của con người không thể bó hẹp trong không gian ngôi nhà ở. Con người còn sống thành cộng đồng lớn và tổ chức cộng đồng thành xã hội. Những con người trong cùng một cộng đồng lại có những hoạt động văn hoá tập thể dựa trên một hệ thống các gia trị và chuẩn mực chung cho cộng đồng đó, và như thế họ có thêm đời sống văn hoá cộng đồng. Những hoạt động này không những liên kết họ thành một khối mà còn làm cho họ mang những nét chung trong đời sống văn hoá của mỗi người và những sản phẩm từ các hoạt động văn hoá của họ cũng mang những nét chung đặc trưng cho cộng đồng, cái mà ta gọi là bản sắc văn hoá cộng đồng hay BẢN SẮC DÂN TỘC.
Một trong những sản phẩm đó là kiến trúc. Từ xưa, bản sắc dân tộc trong kiến trúc thường được thể hiện ở vật liệu đại phương, ở sự phù hợp với đìâu kiện khí hậu, địa lý đại phương, lối sống, phong tục tập quán, tín ngưỡng và những quan niệm triết lý của người đại phương, ở những hình thức và chi tiết kiến trúc địa phương. Ngày nay trong xu thế toàn cầu hoá, kỹ thuât5 công nghệ và các vật liệu xây dựng địa phương truền thống sẽ bị thay thế bởi kỹ thuật – công nghệ hiện đại và các vật liệu có tính quốc tế. Ba yếu tố đó tạo thành tính hiện đại trong kiến trúc. Như vậy tính dân tộc trong kiến trúc bị thu hẹp phạm vi trong sự phù hợp với điều kiện địa lý, khí hậu, lối sống, tín ngưỡng của người bản địa. Nhưng tất cả các yếu tố đó đều được thể hiện trong đời sống văn hoá của các thành viên trong cộng đồng….nên bản sắc dân tộc của kiến trúc chỉ có thể được phản ánh, được tìm thấy ở cái không gian ngôi nhà, không gian của ngôi nhà Việt Nam phải được bố cục sao cho phù hợp với đời sống văn hoá của người Việt Nam.
Bản sắc không phải là cái gì nhất thành nhất biến. Văn hoá dân tộc luôn là sản phẩm của sự hội nhập các yếu tố văn hoá từ các miền địa lý khác nhau và kết hợp các yếu tố này như thế nào còn tuỳ thuộc. Kiến trúc là một bộ phận của văn hoá nên cũng là sản phẩm tích hợp ngẫu nhiên của các yếu tố lịch sử, các yếu tố nội sinh và các yếu tố bên ngoài.
Đời sống văn hoá của con người trong ngôi nhà ở gồm đời sống văn hoá cá nhân và đời sống văn hoá gia đình. Mỗi con người trong mỗi gia đình vừa có những hoạt động văn hoá riêng, vừa tham gia những hoạt động văn hoá tập thể cùng các thành viên trong gia đình. Chính những hoạt động tập thể dựa trên một hệ thống các chuẩn mực và các giá trị chung đã liên kết các thành viên trong gia đình lại thành một đơn vị cộng đồng gắn bó.
Đời sống văn hoá cá nhân đòi hỏi có không gian cho những hoạt động riêng tư, đời sống văn hoá gia đình đòi hỏi có không gian cho những hoạt động tập thể của mọi thành viên trong gia đình. Vì vậy, trong mỗi ngôi nhà ở cần có những phòng riêng cho sinh hoạt cá nhân để hoạt động riêng của người này không ảnh hưởng đến người khác, và những phòng chung cho sinh hoạt tập thể gia đình như làm việc, ăn uống, tiếp khách….Mỗi ngôi nhà hay một căn hộ quá nhỏ sẽ hạn chế các hoạt động văn hoá của các thành viên, kìm giữ đời sống văn hoá gia đình ở trình độ thấp. Với ý nghĩa đó mà người ta cho rằng cộng đồng nhà ở, nhất là nhà ở đô thị là thước đo sự thịnh vượng, thể hiện cấu trúc bên trong của nền văn hoá, thậm chí cả nền văn minh của dân tộc.
Chính yêu cầu phân chia và bố cụa không gian một ngôi nhà ở theo các hoạt động văn hoá riêng tư và các hoạt động văn hoá tập thể đã làm cho nghệ thuật kiến trúc nhà ở ra đời. Dĩ nhiên, đời sống văn hoá của con người không thể bó hẹp trong không gian ngôi nhà ở. Con người còn sống thành cộng đồng lớn và tổ chức cộng đồng thành xã hội. Những con người trong cùng một cộng đồng lại có những hoạt động văn hoá tập thể dựa trên một hệ thống các gia trị và chuẩn mực chung cho cộng đồng đó, và như thế họ có thêm đời sống văn hoá cộng đồng. Những hoạt động này không những liên kết họ thành một khối mà còn làm cho họ mang những nét chung trong đời sống văn hoá của mỗi người và những sản phẩm từ các hoạt động văn hoá của họ cũng mang những nét chung đặc trưng cho cộng đồng, cái mà ta gọi là bản sắc văn hoá cộng đồng hay BẢN SẮC DÂN TỘC.
Một trong những sản phẩm đó là kiến trúc. Từ xưa, bản sắc dân tộc trong kiến trúc thường được thể hiện ở vật liệu đại phương, ở sự phù hợp với đìâu kiện khí hậu, địa lý đại phương, lối sống, phong tục tập quán, tín ngưỡng và những quan niệm triết lý của người đại phương, ở những hình thức và chi tiết kiến trúc địa phương. Ngày nay trong xu thế toàn cầu hoá, kỹ thuât5 công nghệ và các vật liệu xây dựng địa phương truền thống sẽ bị thay thế bởi kỹ thuật – công nghệ hiện đại và các vật liệu có tính quốc tế. Ba yếu tố đó tạo thành tính hiện đại trong kiến trúc. Như vậy tính dân tộc trong kiến trúc bị thu hẹp phạm vi trong sự phù hợp với điều kiện địa lý, khí hậu, lối sống, tín ngưỡng của người bản địa. Nhưng tất cả các yếu tố đó đều được thể hiện trong đời sống văn hoá của các thành viên trong cộng đồng….nên bản sắc dân tộc của kiến trúc chỉ có thể được phản ánh, được tìm thấy ở cái không gian ngôi nhà, không gian của ngôi nhà Việt Nam phải được bố cục sao cho phù hợp với đời sống văn hoá của người Việt Nam.
Bản sắc không phải là cái gì nhất thành nhất biến. Văn hoá dân tộc luôn là sản phẩm của sự hội nhập các yếu tố văn hoá từ các miền địa lý khác nhau và kết hợp các yếu tố này như thế nào còn tuỳ thuộc. Kiến trúc là một bộ phận của văn hoá nên cũng là sản phẩm tích hợp ngẫu nhiên của các yếu tố lịch sử, các yếu tố nội sinh và các yếu tố bên ngoài.
Kiến trúc Việt - các trào lưu, hội nhập và định hướng
Về một nền kiến trúc Việt Nam
Tác giả: Th.S.KTS. Lê Hữu Trúc
http://ashui.com/index.php?option=com_content&task=view&id=57&Itemid=56
Kiến trúc Việt Nam đã có một thời kỳ “bùng nổ”. Bối cảnh xã hội “đổi mới” và “mở cửa” đã mang lại khá nhiều điều kiện thuận lợi cho sinh hoạt nghệ thuật - từ chuyện sáng tác, đến “giao lưu”, “hội nhập” v.v… Trong một khoảng thời gian ngắn năm bảy năm mà số lượng KTS trên cả nước đã tăng lên rất nhiều. Diện mạo kiến trúc cũng thay đổi. “Đa sắc, đa hình, đa ý” hơn với nhiều xu hướng cả tây lẫn ta, cả cổ lẫn kim cùng tồn tại. Sự hồ hởi, phấn khởi, lạc quan lan tràn khắp nơi, kích thích thêm cho niềm tin về sự lớn mạnh và tương lai rạng rỡ của kiến trúc nước nhà… Tuy nhiên, khi niềm hứng khởi chóng qua, cho đến giờ nhìn lại, hầu như ai cũng thấy, sự “bùng nổ”, náo nức kia chỉ là chuyện phong trào, chuyện xã hội mang tính nhất thời. Nó mới chỉ là sản phẩm tự phát của một bối cảnh xã hội đổi mới, chứ chưa phải là sản phẩm của một hay những cách thức tư duy mới.
Tổ hợp khách sạn Sài Gòn - Mũi Né

Giờ đây, trong bối cảnh của nền kinh tế thị trường, các KTS có thể hoàn toàn “tự do” sáng tác. Nhưng xét đến cùng, “tự do” cũng là một thách thức, mà dường như các KTS Việt Nam, vẫn chưa được chuẩn bị kỹ về mọi mặt để có thể vượt qua. Tuy đã được cởi trói, nhưng dường như họ cũng không đóng góp được gì nhiều vào việc định ra những tiêu chuẩn, những giá trị mới để định hình một hệ thẩm mỹ thích nghi với thời đại, để đồng hóa được hai khái niệm kiến trúc Việt Nam thời “đổi mới” với kiến trúc “mới” Việt Nam. Trước tình trạng “manh mún, lộn xộn” của kiến trúc, nhiều người đã quy kết nguyên nhân cho sự ngưng trệ của môi trường sáng tác kiến trúc, cho sự thiếu chuyên nghiệp trong hoạt động nghiên cứu, thông tin, đào tạo và tuyên truyền nghệ thuật, của phê bình kiến trúc v.v… Nhưng, thực ra, vấn đề còn là ở ý thức, ở nội lực của từng KTS. Không được dẫn dắt bởi một cách thức tư duy mới, các KTS, sẽ không biết khai thác năng lượng ở đâu cho sự sáng tạo, cũng như không biết làm thế nào để bảo toàn và phát triển nguồn năng lượng vốn có.
Bỏ qua những hiện tượng không lành mạnh trong các hoạt động sáng tác kiến trúc gần đây với những mục đích khác nhau bên ngoài nghệ thuật của khá đông KTS, thì n
gay ở phần “nghiêm chỉnh” nhất, kiến trúc “mới” Việt Nam, vẫn đang “chấp chới” giữa các khuynh hướng kiến trúc ngoại nhập của phương Tây với nghệ thuật dân gian. Nói “chấp chới”, bởi không thấy gốc rễ, không có dấu hiệu của sự chuyển hóa thích ứng, sự thống nhất mang tính nội tại. Chỉ cần đặt những cuốn giải thưởng kiến trúc Việt Nam bên cạnh bất cứ cuốn sách nào điểm lại nghệ thuật kiến trúc phương Tây thế kỷ XX, và chỉ cần xem phần hình ảnh minh họa, ai cũng dễ dàng nhận thấy, kiến trúc “mới” Việt Nam cứ như một phiên bản mờ nhạt. Có lẽ, hoàn toàn không quá khi nói, trong một diện mạo như thế, kiến trúc “mới” Việt Nam nói chung, vẫn chỉ là một vùng ngoại vi của kiến trúc thế giới. Tất cả những cái được gọi là “Biểu hiện”, là “Trừu tượng”, “Phi cấu tạo” v.v… mà các KTS đang tự hào cho là “mới” và áp dụng vào thực tế, chỉ tô đậm thêm cho tính chất ngoại vi của kiến trúc “mới” Việt Nam mà thôi - đi sau quá xa là một, nhưng quan trọng hơn, là kém thực chất: cách vẽ mới đã không mang ý nghĩa của một cách nhìn mới, và đi kèm với nó là của khoa học công nghệ và vật liệu mới, nên tuy làm theo những hình thức rất mới của thiên hạ nhưng khi diễn giải, các KTS vẫn không có mấy sự khai phá, tự thể hiện, chỉ có sự đi theo, lặp lại… Còn trong những nỗ lực khác để tìm về với truyền thống dân tộc, để khai thác những hình ảnh biểu trưng của cái được gọi là “văn hóa làng”, “văn hóa tâm linh” v.v… thì hầu hết các tác phẩm mới chỉ dừng lại ở mức làm thỏa mãn sự hiếu kỳ văn hóa của một số người, của khách nước ngoài nói chung, chứ chưa làm nên giá trị và vị thế cho kiến trúc Việt Nam xét trên phương diện nghệ thuật.
Bưu điện Quốc tế Hà Nội

Đến lúc này, dường như, đã có thể nói về một sự đứt đoạn trong các quan hệ văn hóa kiến trúc. Hầu như ai cũng cảm thấy nghệ thuật của kiến trúc là thứ thật cần thiết như một nguồn năng lượng làm gia tăng chất lượng cuộc sống, làm gia tăng các khả năng thích nghi với cuộc sống đương đại…nhưng đồng thời, lại chẳng có mấy ai thực sự quan tâm, tiếp cận, tìm hiểu mỹ thuật kiến trúc trong một ý hướng chủ động, tích cực, cặn kẽ, và bài bản. Phần lớn các KTS vẫn chỉ chạy theo nhu cầu của thị trường, còn với số đông công chúng những người tạo nên thị trường thì nghệ thuật là thứ “kính mà không dám đến gần” biết là hay đấy nhưng không hiểu, không biết nên không tiếp cận, hoặc chỉ tiếp cận một cách sơ sài, cẩu thả; về phía các cơ quan quản lý, dường như cũng mới chỉ quan tâm đến khía cạnh pháp lý, những tiêu chuẩn về an toàn nói chung, tác phẩm không vi phạm luật pháp, chính trị là được chứ chưa thật sự quan tâm đến chất lượng nghệ thuật và thẩm mỹ của kiến trúc, giới phê bình kiến trúc thì hầu như không tồn tại, nếu có thì cũng im hơi lặng tiếng một cách khó hiểu v.v…
Có thể giải thích một phần nguyên nhân thực trạng này, bằng những phân tích về sự yếu kém của hoạt động phê bình và thông tin tuyên truyền kiến trúc. Phê bình kiến trúc đã không đảm nhiệm được vai trò của nó, không kích thích được nhu cầu và khai mở ý thức sáng tạo nơi các KTS, không có khả năng làm cho công chúng yêu thích và hiểu biết sâu hơn về nghệ thuật, không thuyết phục được các nhà quản lý trong việc định hướng v.v… Sinh hoạt lý luận, học thuật rất ít, hình thức lại không phong phú, và thường chỉ dừng lại trong khuôn khổ của một vài hội thảo, diễn đàn xong rồi thôi, ít tạo được hiệu quả.
Trụ sở Bộ Tài Chính

Trong bối cảnh ấy, đa số các chủ đầu tư lại không hiểu hết cái đặc thù của công việc sáng tạo nghệ thuật. Họ thiếu hiểu biết về mỹ thuật, trong công việc còn mang nặng tính ngẫu hứng, nên nhiều khi đã can thiệp khá thô bạo vào công việc sáng tạo của KTS. Phần lớn thích bắt chước người khác mà làm chứ hiếm khi có “triết lý”, có “gu” riêng trong nghệ thuật…Trong một môi trường hành nghề như vậy, nên tuy số lượng KTS của chúng ta khá đông đảo, công trình mọc lên nhiều nhưng dường như chẳng có mấy tác phẩm có tiếng nói riêng, có khả năng đại diện cho nền kiến trúc Việt Nam để hòa nhập một cách hữu cơ vào đời sống xã hội và tạo được phong cách. Rất hiếm KTS sáng tạo “như một cuộc phiêu lưu”, thử nghiệm. Đa số, thường tìm đến những giải pháp an toàn với sự thỏa hiệp và cuối cùng là chiều chủ đầu tư để “phục vụ” cho cái này, hoặc cho cái kia...
Trung tâm Hội nghị Quốc gia - Mỹ Đình, Hà Nội

Nhiều người cho rằng: đừng nên sốt ruột, thời gian sẽ tự điều chỉnh v.v... Nhưng thời gian cũng sẽ vô ích nếu không có sự vận động của ý thức và ý chí con người. Đúng là kiến trúc đương đại Việt Nam đang cần có phê bình, đang cần được nhìn lại. Nhưng, sẽ không có phê bình thực sự nếu không có căn cứ học thuật. Và sẽ không thể xây dựng cơ sở học thuật thực sự nếu không bắt đầu bằng thay đổi cách nhìn về văn hóa kiến trúc…Có lẽ không cần phải viện dẫn sách “Tây”, sách “Tàu” để biện giải cho khái niệm văn hóa kiến trúc. Bất cứ ai, suy nghĩ một cách thực tế, tiếp cận kiến trúc từ cơ sở tồn tại và phát triển của nó, từ các yếu tố chi phối, tác động đến sự vận động đổi mới của nó, từ nhận thức về ý nghĩa và giá trị của nó v.v…, đều dễ dàng nhận thấy sự tồn tại khái niệm văn hóa kiến trúc là đương nhiên và cần thiết. Không có gì mới mẻ hay đáng ngờ. Đương nhiên tồn tại và cần thiết được ý thức, nhưng cho đến nay, trong thực tế, khái niệm văn hóa kiến trúc chưa bao giờ được gọi tên với một nội hàm xác định, và đây là điều đáng phải suy nghĩ!?
Trong thực tế, cách tiếp cận kiến trúc của chúng ta, từ trước đến nay về thực chất vẫn còn nhiều bất cập. Điều này có nhiều biểu hiện. Một, trong khâu đào tạo và đầu tư cho sáng tác, chúng ta quan tâm đến yếu tố kỹ thuật nhiều hơn là nghệ thuật, thời gian và số môn ngoài nghệ thụât vẫn chiếm một tỷ trọng quá lớn trong chương trình đào tạo KTS, và ở nhiều nơi cách hiểu về công trình kiến trúc cũng không hơn một công trình xây dựng thuần tuý. Hai, trong khâu đánh giá và bình chọn tác phẩm chúng ta thường chỉ quan tâm đến những giá trị cũ ít nhiều đã ổn định, thích cái vừa phải, chừng mực, và thuận mắt hơn là khuyến khích những tìm tòi, sáng tạo mới về mặt hình thức nghệ thuật (đây cũng là một đặc tính của dân tộc khó thay đổi). Ba, trong khâu tổ chức hoạt động phong trào, chúng ta nhấn mạnh đến ý nghĩa quần chúng, chính trị (của nó) với phương châm “vui là chính” nhiều hơn là ý nghĩa nâng cao chất lượng chuyên môn, học thuật. Bốn, trong định hướng sáng tác, chúng ta có khuynh hướng quay về các giá trị truyền thống với những ám ảnh về “bản sắc” không dứt ra được; chúng ta quan tâm đến vấn đề làm sao cho công chúng hiểu tác phẩm nhiều hơn là đề cao cái mới, cái tiền phong. Và, năm, như một hệ quả, chúng ta buông lỏng công tác phổ cập kiến thức nghệ thuật. Cách tiếp cận này có thể chấp nhận được trong điều kiện thời chiến. Nhưng nếu kéo dài, thì thực tế, ở một khía cạnh, nó trở thành sức ì cản trở sự phát triển bình thường của cả nền văn hóa mỹ thuật nói chung và văn hóa kiến trúc nói riêng, và ở khía cạnh khác, nó tự vô hiệu hóa, khiến cho cả nền kiến trúc rơi vào tình cảnh có định hướng, có tổ chức nhưng vẫn cứ như không…
Các cấu kiện trong thức kiến trúc cổ Việt Nam

Một thực tế khác: trước các khuynh hướng nghệ thuật hiện đại và hậu hiện đại phương Tây lan tràn, cả một thời gian dài, bởi đồng nhất tất cả chúng trong cái gọi là “nghệ thuật tư sản - suy đồi”, nên về mặt học thuật, chúng ta chưa bao giờ tiếp cận chúng một cách có hệ thống với thái độ phân tích khách quan để tìm cái hay, cái dở. Kết quả, cho đến nay, hầu như chẳng có mấy KTS Việt Nam thực sự am tường các khuynh hướng nghệ thuật đang hấp dẫn họ. Mơ hồ, nên họ không biết khai thác năng lượng ở đâu cho sự tiếp thu, sáng tạo. Ngay cả với giới phê bình cũng vậy, không được tiếp cận lý thuyết một cách đầy đủ, họ không biết căn cứ trên tiêu chuẩn nào để phê bình. Còn căn cứ trên các tiêu chuẩn quen thuộc, cũ kỹ tiếng nói của họ rất dễ trở nên lạc điệu, thậm chí vô duyên trước một thực tế kiến trúc nhiều biến đổi. Trước thực tế này, nhiều người đã đặt lại vấn đề về vai trò và trách nhiệm của phê bình kiến trúc. Nhưng thực ra, phê bình kiến trúc cũng “vậy thôi”. Thậm chí còn “tệ” hơn. Hầu như chưa có trường lớp nào đào tạo chuyên ngành phê bình kiến trúc, chưa có ai được chuẩn bị chu đáo cho công việc phê bình. Trên cả nước, cũng chẳng thấy ai đủ sức đi làm cái công việc cắt nghĩa, phân biệt các giá trị nghệ thuật một cách bài bản và có hệ thống. Rất nhiều bài viết gọi là phê bình kiến trúc trên báo chí, nếu không phải là những bài mang tính chất giới thiệu, đưa tin thì cũng sa vào lối tán tụng hoặc phê phán một cách cảm tính. Nhiều bài viết đã nhầm lẫn trong việc đồng hóa cái đẹp trong nghệ thuật với cái đẹp trong cuộc sống, hay đồng hóa các giá trị thẩm mỹ với các giá trị đạo đức, luân lý v.v… Những bài viết này càng nhiều chỉ càng làm nản lòng những người muốn sống hết mình cho nghệ thuật, muốn đổi mới thực sự, và chỉ đẩy các KTS “yếu bản lĩnh” vào mê lộ, với những ham mê đầy ảo tưởng, và đẩy công chúng vào những ngộ nhận không biết đâu là nghệ thuật, đâu là phi nghệ thuật nữa…
Tác giả: Th.S.KTS. Lê Hữu Trúc
http://ashui.com/index.php?option=com_content&task=view&id=57&Itemid=56
Kiến trúc Việt Nam đã có một thời kỳ “bùng nổ”. Bối cảnh xã hội “đổi mới” và “mở cửa” đã mang lại khá nhiều điều kiện thuận lợi cho sinh hoạt nghệ thuật - từ chuyện sáng tác, đến “giao lưu”, “hội nhập” v.v… Trong một khoảng thời gian ngắn năm bảy năm mà số lượng KTS trên cả nước đã tăng lên rất nhiều. Diện mạo kiến trúc cũng thay đổi. “Đa sắc, đa hình, đa ý” hơn với nhiều xu hướng cả tây lẫn ta, cả cổ lẫn kim cùng tồn tại. Sự hồ hởi, phấn khởi, lạc quan lan tràn khắp nơi, kích thích thêm cho niềm tin về sự lớn mạnh và tương lai rạng rỡ của kiến trúc nước nhà… Tuy nhiên, khi niềm hứng khởi chóng qua, cho đến giờ nhìn lại, hầu như ai cũng thấy, sự “bùng nổ”, náo nức kia chỉ là chuyện phong trào, chuyện xã hội mang tính nhất thời. Nó mới chỉ là sản phẩm tự phát của một bối cảnh xã hội đổi mới, chứ chưa phải là sản phẩm của một hay những cách thức tư duy mới.
Tổ hợp khách sạn Sài Gòn - Mũi Né

Giờ đây, trong bối cảnh của nền kinh tế thị trường, các KTS có thể hoàn toàn “tự do” sáng tác. Nhưng xét đến cùng, “tự do” cũng là một thách thức, mà dường như các KTS Việt Nam, vẫn chưa được chuẩn bị kỹ về mọi mặt để có thể vượt qua. Tuy đã được cởi trói, nhưng dường như họ cũng không đóng góp được gì nhiều vào việc định ra những tiêu chuẩn, những giá trị mới để định hình một hệ thẩm mỹ thích nghi với thời đại, để đồng hóa được hai khái niệm kiến trúc Việt Nam thời “đổi mới” với kiến trúc “mới” Việt Nam. Trước tình trạng “manh mún, lộn xộn” của kiến trúc, nhiều người đã quy kết nguyên nhân cho sự ngưng trệ của môi trường sáng tác kiến trúc, cho sự thiếu chuyên nghiệp trong hoạt động nghiên cứu, thông tin, đào tạo và tuyên truyền nghệ thuật, của phê bình kiến trúc v.v… Nhưng, thực ra, vấn đề còn là ở ý thức, ở nội lực của từng KTS. Không được dẫn dắt bởi một cách thức tư duy mới, các KTS, sẽ không biết khai thác năng lượng ở đâu cho sự sáng tạo, cũng như không biết làm thế nào để bảo toàn và phát triển nguồn năng lượng vốn có.
Bỏ qua những hiện tượng không lành mạnh trong các hoạt động sáng tác kiến trúc gần đây với những mục đích khác nhau bên ngoài nghệ thuật của khá đông KTS, thì n
gay ở phần “nghiêm chỉnh” nhất, kiến trúc “mới” Việt Nam, vẫn đang “chấp chới” giữa các khuynh hướng kiến trúc ngoại nhập của phương Tây với nghệ thuật dân gian. Nói “chấp chới”, bởi không thấy gốc rễ, không có dấu hiệu của sự chuyển hóa thích ứng, sự thống nhất mang tính nội tại. Chỉ cần đặt những cuốn giải thưởng kiến trúc Việt Nam bên cạnh bất cứ cuốn sách nào điểm lại nghệ thuật kiến trúc phương Tây thế kỷ XX, và chỉ cần xem phần hình ảnh minh họa, ai cũng dễ dàng nhận thấy, kiến trúc “mới” Việt Nam cứ như một phiên bản mờ nhạt. Có lẽ, hoàn toàn không quá khi nói, trong một diện mạo như thế, kiến trúc “mới” Việt Nam nói chung, vẫn chỉ là một vùng ngoại vi của kiến trúc thế giới. Tất cả những cái được gọi là “Biểu hiện”, là “Trừu tượng”, “Phi cấu tạo” v.v… mà các KTS đang tự hào cho là “mới” và áp dụng vào thực tế, chỉ tô đậm thêm cho tính chất ngoại vi của kiến trúc “mới” Việt Nam mà thôi - đi sau quá xa là một, nhưng quan trọng hơn, là kém thực chất: cách vẽ mới đã không mang ý nghĩa của một cách nhìn mới, và đi kèm với nó là của khoa học công nghệ và vật liệu mới, nên tuy làm theo những hình thức rất mới của thiên hạ nhưng khi diễn giải, các KTS vẫn không có mấy sự khai phá, tự thể hiện, chỉ có sự đi theo, lặp lại… Còn trong những nỗ lực khác để tìm về với truyền thống dân tộc, để khai thác những hình ảnh biểu trưng của cái được gọi là “văn hóa làng”, “văn hóa tâm linh” v.v… thì hầu hết các tác phẩm mới chỉ dừng lại ở mức làm thỏa mãn sự hiếu kỳ văn hóa của một số người, của khách nước ngoài nói chung, chứ chưa làm nên giá trị và vị thế cho kiến trúc Việt Nam xét trên phương diện nghệ thuật.
Bưu điện Quốc tế Hà Nội

Đến lúc này, dường như, đã có thể nói về một sự đứt đoạn trong các quan hệ văn hóa kiến trúc. Hầu như ai cũng cảm thấy nghệ thuật của kiến trúc là thứ thật cần thiết như một nguồn năng lượng làm gia tăng chất lượng cuộc sống, làm gia tăng các khả năng thích nghi với cuộc sống đương đại…nhưng đồng thời, lại chẳng có mấy ai thực sự quan tâm, tiếp cận, tìm hiểu mỹ thuật kiến trúc trong một ý hướng chủ động, tích cực, cặn kẽ, và bài bản. Phần lớn các KTS vẫn chỉ chạy theo nhu cầu của thị trường, còn với số đông công chúng những người tạo nên thị trường thì nghệ thuật là thứ “kính mà không dám đến gần” biết là hay đấy nhưng không hiểu, không biết nên không tiếp cận, hoặc chỉ tiếp cận một cách sơ sài, cẩu thả; về phía các cơ quan quản lý, dường như cũng mới chỉ quan tâm đến khía cạnh pháp lý, những tiêu chuẩn về an toàn nói chung, tác phẩm không vi phạm luật pháp, chính trị là được chứ chưa thật sự quan tâm đến chất lượng nghệ thuật và thẩm mỹ của kiến trúc, giới phê bình kiến trúc thì hầu như không tồn tại, nếu có thì cũng im hơi lặng tiếng một cách khó hiểu v.v…
Có thể giải thích một phần nguyên nhân thực trạng này, bằng những phân tích về sự yếu kém của hoạt động phê bình và thông tin tuyên truyền kiến trúc. Phê bình kiến trúc đã không đảm nhiệm được vai trò của nó, không kích thích được nhu cầu và khai mở ý thức sáng tạo nơi các KTS, không có khả năng làm cho công chúng yêu thích và hiểu biết sâu hơn về nghệ thuật, không thuyết phục được các nhà quản lý trong việc định hướng v.v… Sinh hoạt lý luận, học thuật rất ít, hình thức lại không phong phú, và thường chỉ dừng lại trong khuôn khổ của một vài hội thảo, diễn đàn xong rồi thôi, ít tạo được hiệu quả.
Trụ sở Bộ Tài Chính

Trong bối cảnh ấy, đa số các chủ đầu tư lại không hiểu hết cái đặc thù của công việc sáng tạo nghệ thuật. Họ thiếu hiểu biết về mỹ thuật, trong công việc còn mang nặng tính ngẫu hứng, nên nhiều khi đã can thiệp khá thô bạo vào công việc sáng tạo của KTS. Phần lớn thích bắt chước người khác mà làm chứ hiếm khi có “triết lý”, có “gu” riêng trong nghệ thuật…Trong một môi trường hành nghề như vậy, nên tuy số lượng KTS của chúng ta khá đông đảo, công trình mọc lên nhiều nhưng dường như chẳng có mấy tác phẩm có tiếng nói riêng, có khả năng đại diện cho nền kiến trúc Việt Nam để hòa nhập một cách hữu cơ vào đời sống xã hội và tạo được phong cách. Rất hiếm KTS sáng tạo “như một cuộc phiêu lưu”, thử nghiệm. Đa số, thường tìm đến những giải pháp an toàn với sự thỏa hiệp và cuối cùng là chiều chủ đầu tư để “phục vụ” cho cái này, hoặc cho cái kia...
Trung tâm Hội nghị Quốc gia - Mỹ Đình, Hà Nội

Nhiều người cho rằng: đừng nên sốt ruột, thời gian sẽ tự điều chỉnh v.v... Nhưng thời gian cũng sẽ vô ích nếu không có sự vận động của ý thức và ý chí con người. Đúng là kiến trúc đương đại Việt Nam đang cần có phê bình, đang cần được nhìn lại. Nhưng, sẽ không có phê bình thực sự nếu không có căn cứ học thuật. Và sẽ không thể xây dựng cơ sở học thuật thực sự nếu không bắt đầu bằng thay đổi cách nhìn về văn hóa kiến trúc…Có lẽ không cần phải viện dẫn sách “Tây”, sách “Tàu” để biện giải cho khái niệm văn hóa kiến trúc. Bất cứ ai, suy nghĩ một cách thực tế, tiếp cận kiến trúc từ cơ sở tồn tại và phát triển của nó, từ các yếu tố chi phối, tác động đến sự vận động đổi mới của nó, từ nhận thức về ý nghĩa và giá trị của nó v.v…, đều dễ dàng nhận thấy sự tồn tại khái niệm văn hóa kiến trúc là đương nhiên và cần thiết. Không có gì mới mẻ hay đáng ngờ. Đương nhiên tồn tại và cần thiết được ý thức, nhưng cho đến nay, trong thực tế, khái niệm văn hóa kiến trúc chưa bao giờ được gọi tên với một nội hàm xác định, và đây là điều đáng phải suy nghĩ!?
Trong thực tế, cách tiếp cận kiến trúc của chúng ta, từ trước đến nay về thực chất vẫn còn nhiều bất cập. Điều này có nhiều biểu hiện. Một, trong khâu đào tạo và đầu tư cho sáng tác, chúng ta quan tâm đến yếu tố kỹ thuật nhiều hơn là nghệ thuật, thời gian và số môn ngoài nghệ thụât vẫn chiếm một tỷ trọng quá lớn trong chương trình đào tạo KTS, và ở nhiều nơi cách hiểu về công trình kiến trúc cũng không hơn một công trình xây dựng thuần tuý. Hai, trong khâu đánh giá và bình chọn tác phẩm chúng ta thường chỉ quan tâm đến những giá trị cũ ít nhiều đã ổn định, thích cái vừa phải, chừng mực, và thuận mắt hơn là khuyến khích những tìm tòi, sáng tạo mới về mặt hình thức nghệ thuật (đây cũng là một đặc tính của dân tộc khó thay đổi). Ba, trong khâu tổ chức hoạt động phong trào, chúng ta nhấn mạnh đến ý nghĩa quần chúng, chính trị (của nó) với phương châm “vui là chính” nhiều hơn là ý nghĩa nâng cao chất lượng chuyên môn, học thuật. Bốn, trong định hướng sáng tác, chúng ta có khuynh hướng quay về các giá trị truyền thống với những ám ảnh về “bản sắc” không dứt ra được; chúng ta quan tâm đến vấn đề làm sao cho công chúng hiểu tác phẩm nhiều hơn là đề cao cái mới, cái tiền phong. Và, năm, như một hệ quả, chúng ta buông lỏng công tác phổ cập kiến thức nghệ thuật. Cách tiếp cận này có thể chấp nhận được trong điều kiện thời chiến. Nhưng nếu kéo dài, thì thực tế, ở một khía cạnh, nó trở thành sức ì cản trở sự phát triển bình thường của cả nền văn hóa mỹ thuật nói chung và văn hóa kiến trúc nói riêng, và ở khía cạnh khác, nó tự vô hiệu hóa, khiến cho cả nền kiến trúc rơi vào tình cảnh có định hướng, có tổ chức nhưng vẫn cứ như không…
Các cấu kiện trong thức kiến trúc cổ Việt Nam

Một thực tế khác: trước các khuynh hướng nghệ thuật hiện đại và hậu hiện đại phương Tây lan tràn, cả một thời gian dài, bởi đồng nhất tất cả chúng trong cái gọi là “nghệ thuật tư sản - suy đồi”, nên về mặt học thuật, chúng ta chưa bao giờ tiếp cận chúng một cách có hệ thống với thái độ phân tích khách quan để tìm cái hay, cái dở. Kết quả, cho đến nay, hầu như chẳng có mấy KTS Việt Nam thực sự am tường các khuynh hướng nghệ thuật đang hấp dẫn họ. Mơ hồ, nên họ không biết khai thác năng lượng ở đâu cho sự tiếp thu, sáng tạo. Ngay cả với giới phê bình cũng vậy, không được tiếp cận lý thuyết một cách đầy đủ, họ không biết căn cứ trên tiêu chuẩn nào để phê bình. Còn căn cứ trên các tiêu chuẩn quen thuộc, cũ kỹ tiếng nói của họ rất dễ trở nên lạc điệu, thậm chí vô duyên trước một thực tế kiến trúc nhiều biến đổi. Trước thực tế này, nhiều người đã đặt lại vấn đề về vai trò và trách nhiệm của phê bình kiến trúc. Nhưng thực ra, phê bình kiến trúc cũng “vậy thôi”. Thậm chí còn “tệ” hơn. Hầu như chưa có trường lớp nào đào tạo chuyên ngành phê bình kiến trúc, chưa có ai được chuẩn bị chu đáo cho công việc phê bình. Trên cả nước, cũng chẳng thấy ai đủ sức đi làm cái công việc cắt nghĩa, phân biệt các giá trị nghệ thuật một cách bài bản và có hệ thống. Rất nhiều bài viết gọi là phê bình kiến trúc trên báo chí, nếu không phải là những bài mang tính chất giới thiệu, đưa tin thì cũng sa vào lối tán tụng hoặc phê phán một cách cảm tính. Nhiều bài viết đã nhầm lẫn trong việc đồng hóa cái đẹp trong nghệ thuật với cái đẹp trong cuộc sống, hay đồng hóa các giá trị thẩm mỹ với các giá trị đạo đức, luân lý v.v… Những bài viết này càng nhiều chỉ càng làm nản lòng những người muốn sống hết mình cho nghệ thuật, muốn đổi mới thực sự, và chỉ đẩy các KTS “yếu bản lĩnh” vào mê lộ, với những ham mê đầy ảo tưởng, và đẩy công chúng vào những ngộ nhận không biết đâu là nghệ thuật, đâu là phi nghệ thuật nữa…
Truyền thống mới cho kiến trúc Việt?
--------------------------------------------------------------------------------
Truyền thống mới cho kiến trúc Việt?
KTS. Hoàng Thúc Hào
Không kể những dự án kiến trúc quy hoạch (KTQH) do nước ngoài thực hiện thì dấu ấn nổi bật nhất của quy hoạch kiến trúc (QHKT) Việt đương đại là gì nếu không phải là “Kiến trúc giả cổ” và “Quy hoạch chia lô”?
Lẽ tự nhiên chúng ta sẽ hỏi: Tại sao dịch bệnh “nhại cổ” và “chia lô” thô thiển chỉ nảy sinh và bùng phát trên mảnh đất kiến trúc quy hoạch VN? Sao nó không xảy ra ở Thailan, Singapore, Trung Quốc...? Và tại sao chúng ta không kịp chế ra những Vacxin đủ sức chặn đứng các đại dịch này?
Khủng hoảng hệ thống giá trị
Xét về bản chất, có lẽ bởi chúng ta thiếu một hệ chuẩn các giá trị KTQH đủ khả năng miễn dịch. Thông thường kiến trúc phát triển theo một tiến trình, thời sau kế thừa những thành tựu của thời trước mà đi tiếp. Vậy một hệ thống giá trị phải là tinh hoa đúc kết nhiều đời, có khả năng đương đầu trước những biến động thời cuộc và làm nền tảng cho quá trình điều tiết và định hướng các bước phát triển tiếp theo.
Nhưng vì sao chúng ta đã chưa xây dựng được hệ thống các giá trị này?
Để trả lời cần một cái nhìn toàn cảnh. Phải nói trong lịch sử chúng ta từng có hệ thống giá trị KTQH. Tổng thể kiến trúc các làng đồng bằng Bắc bộ là minh chứng dễ thấy nhất: từ đường làng, cổng làng, luỹ tre, cây đa, đình làng, hệ thống hồ ao đến nhà ba gian hai chái, những gốc mít, khóm cau..., tất cả đều thống nhất kỳ lạ trong mối quan hệ về tỷ lệ, không gian, màu sắc, chất liệu. Đặc biệt một khía cạnh rất hiện đại là hệ sinh thái luôn duy trì được khả năng tự điều chỉnh và cân bằng. Song hệ giá trị đấy là sản phẩm của xã hội phong kiến phương Đông, của nền kinh tế tiểu nông, tự cung tự cấp. Nó ổn định suốt từ thời nhà Lý cho đến cuối thế kỷ mười chín, dù thiên tai địch họa liên miên. Tuy vậy, nó chỉ là hệ thống KTQH của nông thôn xưa, không phải và chưa bao giờ là hệ thống của đô thị.
Có sự đứt đoạn khi thực dân Pháp xuất hiện ở Đông Dương. Hệ giá trị KTQH của ta đầy bỡ ngỡ trước các giá trị kiến trúc đô thị phương Tây, khác xa mình. Người Pháp vào mang theo tàu hỏa, công nghệ khai mỏ, những quan niệm về đô thị và công nghệ QH hiện đại..., toàn những thứ người Việt chưa từng biết. Rồi sau đấy là hàng thập kỷ đấu tranh giành độc lập, và từ năm 1954 miền Bắc bắt đầu xây dựng Chủ nghĩa xã hội trong điều kiện kinh tế eo hẹp. Về KTQH chủ yếu áp dụng khuôn mẫu Xôviết và của phe XHCN, rồi đổi mới.
Tóm lại, chúng ta chưa có đủ thời gian và điều kiện cần thiết để xác lập hệ giá trị KTQH riêng. Trước là do Pháp, sau ảnh hưởng Liên Xô (cũ), miền Nam đậm dấu ấn Mỹ. Đến thời kỳ đổi mới, các trào lưu KT tràn vào như lũ. Và vì gần như chưa có sự chuẩn bị và thiếu hẳn một hệ thống chuẩn các giá trị nên hệ quả tất yếu là đâu đâu cũng đầy rẫy những sản phẩm lai căng, nhại cổ, là bệnh chia lô..., là những nạn dịch. Cái gọi là “khu đô thị mới”, “khu du lịch sinh thái” thời gian gần đây đã và đang ẩn chứa những mầm dịch nguy hiểm. Câu chuyện các văn phòng kiến trúc nước ngoài chiếm thế thượng phong trong cạnh tranh với các văn phòng nội cũng thật hiển nhiên và dễ hiểu.
Trích dẫn
Nhớ lại đầu những năm 80, dịch đá rửa đã nhấn Hà nội chìm trong một màu xám xịt, rồi “em ơi Hà nội chóp”, “ban công bụng chửa”, “thức cột, cửa vòm, con tiện”, “mái mansard”... Hàng ngàn ngàn tỷ đồng của dân bị tiêu tốn bởi hàng loạt đại dịch hình thức liên tiếp. Và sự thật đáng buồn là vùng tâm dịch luôn là Thủ đô Hà nội, nơi hội tụ tinh hoa cả nước. Đồng thời một trong những ổ phát dịch chính là khu vực kiến trúc các công sở, các cơ quan công quyền ở TW cũng như địa phương. Vì dân ta có thói quen mục sở thị, hay bắt chước. Họ thấy UBND tỉnh, quận hay trụ sở các cơ quan nhà nước rất hoành tráng, cầu kỳ. Họ tin đây là những mẫu hình lý tưởng có thể noi theo. Bởi vậy, dịch KT Pháp rởm đã lan nhanh chóng mặt, đương nhiên có sự thoả hiệp của một bộ phận không nhỏ KTS.
Hướng đến một truyền thống mới
Trước bối cảnh như vậy, KTQH Việt đương đại có khả năng kiến tạo một lộ trình nhằm thoát ra khủng hoảng?
Có khả năng tận dụng tối đa những cơ hội cạnh tranh để củng cố nội lực và từng bước xây dựng được nền móng riêng - vững chắc hay không?
Lịch sử kiến trúc đô thị thế giới ghi nhận truyền thống kiến trúc của Hy Lạp cổ đại, La Mã cổ đại, kiến trúc các thành phố thời Phục hưng: Florence, Pisa, Venice. Rồi quy hoạch kiến trúc Paris cận hiện đại, đến các thành phố đương đại của Mỹ và Châu Âu như New York, Chicago, Barcelona, Amsterdam, Berlin... Châu Á với Bắc Kinh, Tokyo, Thâm Quyến, Hông Kông, Thượng Hải..., Đông Nam Á có Kuala Lumpur, Singapore. Tất cả những thành phố có truyền thống kiến trúc nêu trên đều tồn tại một điểm chung bất biến: đó là sự cộng sinh hoàn hảo giữa vai trò của KTS- nhà QH đô thị với chủ đầu tư và vai trò quản lý nhà nước. Biểu hiện cụ thể ở công thức hợp trội 1+1>2. Nhà QH - KTS tự do, thỏa chí sáng tạo. Chủ đầu tư văn hóa cao, tôn trọng nghệ sỹ và có khả năng cảm thụ cái đẹp. Nhà nước tạo hành lang pháp lý, ban hành các luật lệ về đầu tư xây dựng, quản lý đô thị..., miễn sao cuộc sống đô thị diễn ra khoa học, thuận tiện và lãng mạn nhất, miễn sao ý tưởng của người sáng tạo có thể bộc lộ rõ ràng, trung thực nhất. Tóm lại từng yếu tố của họ đều là 1, hay nói cách khác chúng có khả năng tự hoàn chỉnh, chuyên nghiệp và chuyên môn hóa cùng hướng đến đích chung. Ở ta tình hình ngược lại, sự manh mún, thiếu chuyên nghiệp, tầm nhìn hẹp, ngắn nên tất yếu 1+1<2. Các yếu tố đa phần chỉ là 0,3; 0,5, làm cách nào hợp trội?
Để ra khỏi khủng hoảng, phải thay đổi nhận thức từ gốc.
Trước tiên, nhà nước phải cho ra đời KTS Đoàn theo thông lệ quốc tế, tương tự luật sư Đoàn. Hội KTS đã soạn thảo pháp lệnh hành nghề KTS và quy chế KTS Đoàn công phu từ nhiều năm, đã làm việc với Bộ XD và có kiến nghị áp dụng thí điểm tại TP Hồ Chí Minh. Pháp lệnh này nếu được thông qua sẽ chính thức công nhận quyền sáng tạo và tự chịu trách nhiệm trước xã hội của KTS, đồng thời giảm thiểu đáng kể sự can thiệp thô bạo của những chủ đầu tư thực dụng, thiếu văn hóa vào quá trình sinh thành tác phẩm.
Kế tiếp cần phổ biến quy chế đấu thầu, thi tuyển thiết kế QH như thi tuyển công trình kiến trúc, tránh độc quyền nhà nước. Lâu nay, QH tất cả các đô thị đều do Viện QH - Bộ XD thực hiện với cùng một công nghệ lạc hậu và xơ cứng, thiếu chủ thuyết xuyên suốt. Hệ quả là hầu hết các đô thị đều na ná nhau, đơn điệu, không bản sắc. Việc cần làm là lập tức nghiên cứu, đổi mới công nghệ QH. Sao cho thích ứng với thực tiễn phát triển kinh tế - xã hội trước mắt cũng như lâu dài. Muốn vậy phải chọn lựa, xây dựng bằng được chủ thuyết dẫn đường.
Một điểm nữa là nếu Chính phủ sớm ra nghị định cấm UBND các tỉnh, quận xây dựng các công trình theo kiến trúc Pháp rởm thì hẳn dịch bệnh đã không bùng phát và lan nhanh đến vậy.
Tóm lại, để nền KTQH lâm vào khủng hoảng kéo dài, trách nhiệm chính thuộc Bộ XD. Và liệu KTQH có ra khỏi khủng hoảng và phát triển được hay không, trách nhiệm phần lớn vẫn thuộc Bộ XD, chính xác là phụ thuộc vào những chính sách nhà nước mà Bộ XD là cơ quan tham mưu trực tiếp.
Về phía KTS, bài học kinh nghiệm nào từ các KTS đương đại thế giới hữu ích cho Việt Nam? Những bậc thầy Hightech - siêu cấu trúc như Norman Foster, Gehry, Calatrava, Herzog De Meuron... chúng ta đành “kính nhi viễn chi”, hai - ba mươi năm nữa mới có khả năng tiếp cận. Tuy nhiên thế giới còn những đại biểu không kém phần ưu tú, những Tadao Ando, Mario Botta, Charles Correa, Glenn Murcutt... mà chúng ta có thể rút ra những bài học thiết thực. Ở những tác giả này đều có các điểm chung sau: họ làm chủ yếu công trình quy mô nhỏ và trung bình, tính kỹ thuật - công nghệ không quá phức tạp. Kiến trúc của họ đậm đặc tính địa phương đồng thời cái tính địa phương ấy lại toát ra cái toàn nhân loại. Ở Ando là những không gian riêng tư đối lập với không gian xã hội thông tin ầm ĩ bên ngoài. Botta khơi dậy nơi con người hiện đại “niềm thích thú biết ngạc nhiên”. Đặc trưng của Correa là các khu ở phổ quát cho người nghèo, người thu nhập thấp. Murcutt tôn trọng thiên nhiên, tôn trọng cái thần địa điểm, “kiến trúc chạm nhẹ vào đất”, tiết kiệm năng lượng.
Vấn đề là giữa chúng ta với những KTS Ando, Botta, Correa, Murcutt khác nhau ở chỗ, chúng ta chưa thấu hiểu và làm chủ được quá trình cốt tử của sáng tạo kiến trúc như họ đã làm: đó là việc kiến tạo một ý niệm xuyên suốt trong tổ chức không gian và khả năng xử lý kỹ thuật, công nghệ và vật liệu mới tương ứng. Chúng ta chưa xây dựng được những điểm tựa tinh thần - có thể là một hình thái, một triết lý không gian của riêng Việt Nam - để từ đó chủ động khúc xạ và ứng dụng khoa học công nghệ phương Tây, chứ không chỉ bị động chạy theo để rồi luôn tụt hậu và lạc hậu. Nên chăng cần thức nhận lại khái niệm “không gian mở”, “không gian lớp”. Đã có mở tức có đóng, đã có lớp tức có cấu trúc các lớp, có sự giao thoa giữa các lớp... Và ở thời đại thế giới là ngôi làng lớn thì nhất thiết trong cái bản địa, cái rất riêng của mình phải ẩn chứa những mã thông điệp mang tính toàn cầu.
Cuối cùng, thực tế kiến trúc xây dựng vô cùng sôi động. Chúng ta, những KTS - nhà quản lý - chủ đầu tư liệu có khả năng cộng sinh thoát ra khủng hoảng? Có khả năng hợp sức đặt những viên gạch đầu tiên cho sự khởi đầu của một truyền thống mới?
Tôi tin vào sự thức nhận của các nhà quản lý trẻ, các KTS - nhà QH trẻ. Tin rằng “nhân loại chỉ đặt ra những vấn đề mà họ có khả năng giải quyết”. Song lưu ý, then chốt nằm chính ở tính trung thực của vấn đề được nêu.
(Tạp chí Tia Sáng - 01/2008)
Truyền thống mới cho kiến trúc Việt?
KTS. Hoàng Thúc Hào
Không kể những dự án kiến trúc quy hoạch (KTQH) do nước ngoài thực hiện thì dấu ấn nổi bật nhất của quy hoạch kiến trúc (QHKT) Việt đương đại là gì nếu không phải là “Kiến trúc giả cổ” và “Quy hoạch chia lô”?
Lẽ tự nhiên chúng ta sẽ hỏi: Tại sao dịch bệnh “nhại cổ” và “chia lô” thô thiển chỉ nảy sinh và bùng phát trên mảnh đất kiến trúc quy hoạch VN? Sao nó không xảy ra ở Thailan, Singapore, Trung Quốc...? Và tại sao chúng ta không kịp chế ra những Vacxin đủ sức chặn đứng các đại dịch này?
Khủng hoảng hệ thống giá trị
Xét về bản chất, có lẽ bởi chúng ta thiếu một hệ chuẩn các giá trị KTQH đủ khả năng miễn dịch. Thông thường kiến trúc phát triển theo một tiến trình, thời sau kế thừa những thành tựu của thời trước mà đi tiếp. Vậy một hệ thống giá trị phải là tinh hoa đúc kết nhiều đời, có khả năng đương đầu trước những biến động thời cuộc và làm nền tảng cho quá trình điều tiết và định hướng các bước phát triển tiếp theo.
Nhưng vì sao chúng ta đã chưa xây dựng được hệ thống các giá trị này?
Để trả lời cần một cái nhìn toàn cảnh. Phải nói trong lịch sử chúng ta từng có hệ thống giá trị KTQH. Tổng thể kiến trúc các làng đồng bằng Bắc bộ là minh chứng dễ thấy nhất: từ đường làng, cổng làng, luỹ tre, cây đa, đình làng, hệ thống hồ ao đến nhà ba gian hai chái, những gốc mít, khóm cau..., tất cả đều thống nhất kỳ lạ trong mối quan hệ về tỷ lệ, không gian, màu sắc, chất liệu. Đặc biệt một khía cạnh rất hiện đại là hệ sinh thái luôn duy trì được khả năng tự điều chỉnh và cân bằng. Song hệ giá trị đấy là sản phẩm của xã hội phong kiến phương Đông, của nền kinh tế tiểu nông, tự cung tự cấp. Nó ổn định suốt từ thời nhà Lý cho đến cuối thế kỷ mười chín, dù thiên tai địch họa liên miên. Tuy vậy, nó chỉ là hệ thống KTQH của nông thôn xưa, không phải và chưa bao giờ là hệ thống của đô thị.
Có sự đứt đoạn khi thực dân Pháp xuất hiện ở Đông Dương. Hệ giá trị KTQH của ta đầy bỡ ngỡ trước các giá trị kiến trúc đô thị phương Tây, khác xa mình. Người Pháp vào mang theo tàu hỏa, công nghệ khai mỏ, những quan niệm về đô thị và công nghệ QH hiện đại..., toàn những thứ người Việt chưa từng biết. Rồi sau đấy là hàng thập kỷ đấu tranh giành độc lập, và từ năm 1954 miền Bắc bắt đầu xây dựng Chủ nghĩa xã hội trong điều kiện kinh tế eo hẹp. Về KTQH chủ yếu áp dụng khuôn mẫu Xôviết và của phe XHCN, rồi đổi mới.
Tóm lại, chúng ta chưa có đủ thời gian và điều kiện cần thiết để xác lập hệ giá trị KTQH riêng. Trước là do Pháp, sau ảnh hưởng Liên Xô (cũ), miền Nam đậm dấu ấn Mỹ. Đến thời kỳ đổi mới, các trào lưu KT tràn vào như lũ. Và vì gần như chưa có sự chuẩn bị và thiếu hẳn một hệ thống chuẩn các giá trị nên hệ quả tất yếu là đâu đâu cũng đầy rẫy những sản phẩm lai căng, nhại cổ, là bệnh chia lô..., là những nạn dịch. Cái gọi là “khu đô thị mới”, “khu du lịch sinh thái” thời gian gần đây đã và đang ẩn chứa những mầm dịch nguy hiểm. Câu chuyện các văn phòng kiến trúc nước ngoài chiếm thế thượng phong trong cạnh tranh với các văn phòng nội cũng thật hiển nhiên và dễ hiểu.
Trích dẫn
Nhớ lại đầu những năm 80, dịch đá rửa đã nhấn Hà nội chìm trong một màu xám xịt, rồi “em ơi Hà nội chóp”, “ban công bụng chửa”, “thức cột, cửa vòm, con tiện”, “mái mansard”... Hàng ngàn ngàn tỷ đồng của dân bị tiêu tốn bởi hàng loạt đại dịch hình thức liên tiếp. Và sự thật đáng buồn là vùng tâm dịch luôn là Thủ đô Hà nội, nơi hội tụ tinh hoa cả nước. Đồng thời một trong những ổ phát dịch chính là khu vực kiến trúc các công sở, các cơ quan công quyền ở TW cũng như địa phương. Vì dân ta có thói quen mục sở thị, hay bắt chước. Họ thấy UBND tỉnh, quận hay trụ sở các cơ quan nhà nước rất hoành tráng, cầu kỳ. Họ tin đây là những mẫu hình lý tưởng có thể noi theo. Bởi vậy, dịch KT Pháp rởm đã lan nhanh chóng mặt, đương nhiên có sự thoả hiệp của một bộ phận không nhỏ KTS.
Hướng đến một truyền thống mới
Trước bối cảnh như vậy, KTQH Việt đương đại có khả năng kiến tạo một lộ trình nhằm thoát ra khủng hoảng?
Có khả năng tận dụng tối đa những cơ hội cạnh tranh để củng cố nội lực và từng bước xây dựng được nền móng riêng - vững chắc hay không?
Lịch sử kiến trúc đô thị thế giới ghi nhận truyền thống kiến trúc của Hy Lạp cổ đại, La Mã cổ đại, kiến trúc các thành phố thời Phục hưng: Florence, Pisa, Venice. Rồi quy hoạch kiến trúc Paris cận hiện đại, đến các thành phố đương đại của Mỹ và Châu Âu như New York, Chicago, Barcelona, Amsterdam, Berlin... Châu Á với Bắc Kinh, Tokyo, Thâm Quyến, Hông Kông, Thượng Hải..., Đông Nam Á có Kuala Lumpur, Singapore. Tất cả những thành phố có truyền thống kiến trúc nêu trên đều tồn tại một điểm chung bất biến: đó là sự cộng sinh hoàn hảo giữa vai trò của KTS- nhà QH đô thị với chủ đầu tư và vai trò quản lý nhà nước. Biểu hiện cụ thể ở công thức hợp trội 1+1>2. Nhà QH - KTS tự do, thỏa chí sáng tạo. Chủ đầu tư văn hóa cao, tôn trọng nghệ sỹ và có khả năng cảm thụ cái đẹp. Nhà nước tạo hành lang pháp lý, ban hành các luật lệ về đầu tư xây dựng, quản lý đô thị..., miễn sao cuộc sống đô thị diễn ra khoa học, thuận tiện và lãng mạn nhất, miễn sao ý tưởng của người sáng tạo có thể bộc lộ rõ ràng, trung thực nhất. Tóm lại từng yếu tố của họ đều là 1, hay nói cách khác chúng có khả năng tự hoàn chỉnh, chuyên nghiệp và chuyên môn hóa cùng hướng đến đích chung. Ở ta tình hình ngược lại, sự manh mún, thiếu chuyên nghiệp, tầm nhìn hẹp, ngắn nên tất yếu 1+1<2. Các yếu tố đa phần chỉ là 0,3; 0,5, làm cách nào hợp trội?
Để ra khỏi khủng hoảng, phải thay đổi nhận thức từ gốc.
Trước tiên, nhà nước phải cho ra đời KTS Đoàn theo thông lệ quốc tế, tương tự luật sư Đoàn. Hội KTS đã soạn thảo pháp lệnh hành nghề KTS và quy chế KTS Đoàn công phu từ nhiều năm, đã làm việc với Bộ XD và có kiến nghị áp dụng thí điểm tại TP Hồ Chí Minh. Pháp lệnh này nếu được thông qua sẽ chính thức công nhận quyền sáng tạo và tự chịu trách nhiệm trước xã hội của KTS, đồng thời giảm thiểu đáng kể sự can thiệp thô bạo của những chủ đầu tư thực dụng, thiếu văn hóa vào quá trình sinh thành tác phẩm.
Kế tiếp cần phổ biến quy chế đấu thầu, thi tuyển thiết kế QH như thi tuyển công trình kiến trúc, tránh độc quyền nhà nước. Lâu nay, QH tất cả các đô thị đều do Viện QH - Bộ XD thực hiện với cùng một công nghệ lạc hậu và xơ cứng, thiếu chủ thuyết xuyên suốt. Hệ quả là hầu hết các đô thị đều na ná nhau, đơn điệu, không bản sắc. Việc cần làm là lập tức nghiên cứu, đổi mới công nghệ QH. Sao cho thích ứng với thực tiễn phát triển kinh tế - xã hội trước mắt cũng như lâu dài. Muốn vậy phải chọn lựa, xây dựng bằng được chủ thuyết dẫn đường.
Một điểm nữa là nếu Chính phủ sớm ra nghị định cấm UBND các tỉnh, quận xây dựng các công trình theo kiến trúc Pháp rởm thì hẳn dịch bệnh đã không bùng phát và lan nhanh đến vậy.
Tóm lại, để nền KTQH lâm vào khủng hoảng kéo dài, trách nhiệm chính thuộc Bộ XD. Và liệu KTQH có ra khỏi khủng hoảng và phát triển được hay không, trách nhiệm phần lớn vẫn thuộc Bộ XD, chính xác là phụ thuộc vào những chính sách nhà nước mà Bộ XD là cơ quan tham mưu trực tiếp.
Về phía KTS, bài học kinh nghiệm nào từ các KTS đương đại thế giới hữu ích cho Việt Nam? Những bậc thầy Hightech - siêu cấu trúc như Norman Foster, Gehry, Calatrava, Herzog De Meuron... chúng ta đành “kính nhi viễn chi”, hai - ba mươi năm nữa mới có khả năng tiếp cận. Tuy nhiên thế giới còn những đại biểu không kém phần ưu tú, những Tadao Ando, Mario Botta, Charles Correa, Glenn Murcutt... mà chúng ta có thể rút ra những bài học thiết thực. Ở những tác giả này đều có các điểm chung sau: họ làm chủ yếu công trình quy mô nhỏ và trung bình, tính kỹ thuật - công nghệ không quá phức tạp. Kiến trúc của họ đậm đặc tính địa phương đồng thời cái tính địa phương ấy lại toát ra cái toàn nhân loại. Ở Ando là những không gian riêng tư đối lập với không gian xã hội thông tin ầm ĩ bên ngoài. Botta khơi dậy nơi con người hiện đại “niềm thích thú biết ngạc nhiên”. Đặc trưng của Correa là các khu ở phổ quát cho người nghèo, người thu nhập thấp. Murcutt tôn trọng thiên nhiên, tôn trọng cái thần địa điểm, “kiến trúc chạm nhẹ vào đất”, tiết kiệm năng lượng.
Vấn đề là giữa chúng ta với những KTS Ando, Botta, Correa, Murcutt khác nhau ở chỗ, chúng ta chưa thấu hiểu và làm chủ được quá trình cốt tử của sáng tạo kiến trúc như họ đã làm: đó là việc kiến tạo một ý niệm xuyên suốt trong tổ chức không gian và khả năng xử lý kỹ thuật, công nghệ và vật liệu mới tương ứng. Chúng ta chưa xây dựng được những điểm tựa tinh thần - có thể là một hình thái, một triết lý không gian của riêng Việt Nam - để từ đó chủ động khúc xạ và ứng dụng khoa học công nghệ phương Tây, chứ không chỉ bị động chạy theo để rồi luôn tụt hậu và lạc hậu. Nên chăng cần thức nhận lại khái niệm “không gian mở”, “không gian lớp”. Đã có mở tức có đóng, đã có lớp tức có cấu trúc các lớp, có sự giao thoa giữa các lớp... Và ở thời đại thế giới là ngôi làng lớn thì nhất thiết trong cái bản địa, cái rất riêng của mình phải ẩn chứa những mã thông điệp mang tính toàn cầu.
Cuối cùng, thực tế kiến trúc xây dựng vô cùng sôi động. Chúng ta, những KTS - nhà quản lý - chủ đầu tư liệu có khả năng cộng sinh thoát ra khủng hoảng? Có khả năng hợp sức đặt những viên gạch đầu tiên cho sự khởi đầu của một truyền thống mới?
Tôi tin vào sự thức nhận của các nhà quản lý trẻ, các KTS - nhà QH trẻ. Tin rằng “nhân loại chỉ đặt ra những vấn đề mà họ có khả năng giải quyết”. Song lưu ý, then chốt nằm chính ở tính trung thực của vấn đề được nêu.
(Tạp chí Tia Sáng - 01/2008)
Đăng ký:
Bài đăng (Atom)

