24 thg 5, 2008

Suy nghĩ về kiến trúc Việt Nam đương đại

PGS.TS.KTS. Nguyễn Hồng Thục
Tôi nhận được thông báo của HKTSVN về hội thảo “Những vấn đề của KTVN đương đại” không sớm để có thể kịp lùi lại nhìn cho được một thời khoảng, bao quát cho được một không gian của Kiến trúc Việt như mong muốn bởi thời điểm này cái nhìn,vẫn sát gần quá, không dễ gì bao quát nổi.Nhưng gì thì vẫn phải nhìn cho rõ cái đang diễn ra nội tại của Kiến trúc Việt Nam hôm nay từ góc độ người sáng tác – cầm bút. Những bi quan, trăn trở luôn là tâm trạng của những người có trách nhiệm với đời, với nghề và xã hội. Kiến trúc hiện đại ở các nước đang phát triển.Kiến trúc hiện đại bắt đầu từ tư tưởng công nghiệp hoá ở Phương Tây đã nhanh chóng trở thành quá trình toàn cầu hoá, trong lịch sử chưa có phong cách kiến trúc nào lan toả rộng rãi như vậy. Nhìn nhận vấn đề này từ góc độ người sáng tác kiến trúc là một vấn đề không mới, nhưng sẽ làm sáng thêm một số con đường hiện đại hoá Kiến trúc Việt Nam.Ý tưởng về kiến trúc hiện đại hình thành từ cuộc cách mạng công nghiệp, cuộc cách mạng thúc đẩy các vấn đề mới: vật liệu và phương pháp xây dựng mới (sử dụng gang, thép thay thế gạch đá), những nhà đầu tư mới, chức năng mới, và tạo ra các hình thức kiến trúc mới ( nhà ga, kho tàng, nhà cao tầng , thép…) vượt qua các thể lệ và nguyên tắc thiết kế của Kiến trúc tân cổ điển trước đó.Xu thế sáng tạo ra những “phong cách kiến trúc hiện đại” đích thực, không giống các thời đại trước, đã dần lan rộng trên toàn thế giới, là nguyên nhân gây nên sự khủng hoảng cho các kinh nghiệm xây dựng truyền thống. Hơn thế nữa công nghiệp hoá đã phá vỡ thế giới thủ công và thúc đẩy cho truyền thống sụp đổ nhanh chóng. Máy móc đã tạo nên sự chia rẽ giữa công việc chân tay , trí óc và thẩm mỹ trong công trình hiện đại về cơ bản mang tính thực dụng và tiêu chuẩn hoá. Điều đó đánh mất sự hoàn thiện vốn là tính đặc trưng và sự lôi cuốn mỹ cảm của các sản phẩm truyền thống.Sau những năm 1940 và 1950 kiến trúc hiện đại vươn tầm ảnh hưởng đáng kể lên những quốc gia “kém phát triển” và ở đây chúng thường thiếu chất thơ và chiều sâu tư tưởng để có thể trở thành kiệt tác của trào lưu hiện đại. Chủ yếu những nước đang phát triển du nhập hình mẫu của “ phong cách quốc tế” do tính hợp lý trong sử dụng và xây dựng rẻ tiền. Kiến trúc theo phong cách này nhanh chóng đối lập với sự lạc hậu và chậm phát triển của thời kỳ trước, tác động lên xu hướng phát triển đô thị và kiến trúc địa phương. Xu hướng hiện đại phát triển nhanh chóng trong thập niên 60,70 ( Đông Nam á , Irắc, Nigieria) đã chuyển nền kinh tế nông thôn , nông nghiệp sang nền kinh tế đô thị và công nghiệp chỉ trong một thế hệ. Những phương tiện hiện đại( trong đó có kiến trúc hiện đại) du nhập từ bên ngoài đã gây nên sự đảo lộn giữa mới – cũ, đô thị – nông thôn về mặt văn hoá và xã hội. Cho đến nay các trung tâm đô thị đã mọc lên nhanh chóng trên thế giới và cả Đông nam á dường như mang sắc thái của khu Manhanta, Newyork hơn là sắc thái địa phương, dân tộc mà kiến trúc lịch sử của họ đã lưu truyền lại hàng ngàn năm trước.Trong suốt một thế kỷ , kiến trúc hiện đại đã tỏ rõ ưu điểm về kỹ thuật và hiệu quả trong hoạt động. Nhưng chúng lại xa lạ với kiến cảnh quan văn hóa và cảnh quan tự nhiên của địa điểm. Yếu điểm này của kiến trúc hiện đại càng bộc lộ rõ khi kinh tế tăng trưởng, con người không chỉ cần một không gian tiện nghi mà lớn hơn cả là không gian tinh thần, không gian thẩm mỹ( điều mà kiến trúc truyền thống qua nhiều thế kỷ đã tạo dựng được)Kiến trúc hiện đại có mặt tại Việt Nam – những thời kỳ đầu tiên.Sự thèm khát thiên nhiên, cảm nhận được vẻ đựo của con người, địa điểm, sự gắn bó với một vùng đất làm con người hiện đại ngày càng hướng tới một nền kiến trúc địa phương nhưng vấn khai thác hiệu quả các vấn đề về tổ chức chức năng và phương tiện kỹ thuật của kiến trúc hiện đại. Phải chăng đây cũng là tư tưởng chúng ta muốn hướng tới? Nền Kiến trúc Việt truyền thống nảy sinh từ cuộc sống cần lao nuôi dưỡng trong văn hoá làng xã hàng ngàn năm đã đạt được sự kết tinh của vẻ đẹp và sử dụng. Căn tính của Kiến trúc Việt phải chăng là sự “kiệm lời, linh hoạt” trong tổ chức không gian chức năng nhằm đạt tinh thần thẩm mỹ của sự hoà nhập - với thiên nhiên, cây cỏ, bầu trời.Thử nhìn lại Kiến trúc Việt Nam những chặng đầu tiên tiếp xúc giao thoa với Kiến trúc hiện đại thế giới. Trường cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương ra đời năm 1925 đã đưa ra tôn chỉ đào tạo các nghệ sỹ, kiến trúc sư những hiểu biết về phương Tây (được hiểu là nghệ thuật hiện đại thời kỳ đầu) và cả phương Đông – như một phong cách bản địa và thực sự phải phát huy được “sức sáng tạo của Việt Nam” ( theo Carinne D.M). Tư tưởng này đã làm nên một thế hệ kiến trúc sư thứ nhất ở Việt Nam với sự ra đời phong cách Đông Dương nổi tiếng để lại dấu ấn trong lịch sử Kiến trúc Việt Nam thời cận và hiện đại. Các kiến trúc sư thế hệ thứ nhất của trường Cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương sử dụng kỹ thuật và vật liệu mới, nhưng không bao giờ xa rời vẻ đẹp mộc mạc, thanh tao của Kiến trúc Việt truyền thống, vốn chống lại sự mầu mè, phô trương, nặng nề.Thời kỳ hoà bình lập lại, kiến trúc Việt Nam có nền tảng xã hội chủ nghĩa với phương châm thiết kế: “ Thích dụng, bền vững, mỹ quan trong điều kiện có thể”. Kiến trúc thời kỳ này có nhiều cống hiến khi cho ra đồi một phong cách trong sáng cô đọng , phù hợp với đời sống cán bộ công nhân viên chức XHCN, về thực chất gần gũi với kiến trúc công năng thời kỳ đầu. Trong chiến tranh chống Mỹ, kiến trúc hiện đại vẫn phát triển ở nước ta thông qua các nguyên lý kiến trúc của trường phái Xô Viết, toàn diện hơn, đầy đủ hơn, chú trọng đến công nghiệp hoá cấu kiện, tính thống nhất của hệ thống modul và tiêu chuẩn hoá các loại hình kiến trúc. Đây cũng chính là nền tảng quan trọng về học thuật để đào tạo và sáng tác kiến trúc. Kiến trúc Việt Nam. Thời kỳ này phát triển đầy đủ các loại hình thông dụng: trường học, nhà ở , chung cư, nhà văn hoá, trụ sở, bách hoá, nhà máy…với ngôn ngữ kiến trúc giản dị, ảnh hưởng bởi kiến trúc Liên Xô cũ (còn nhiều dấu vết ở cấu tạo mái và hệ thống panel sàn) các sáng tác kiến trúc tốt đều mang tính cơ bản của các nguyên tắc loại hình kiến trúc (typology) và thống nhất về phong cách ( chủ yếu là các hình hộp chạy dài, ít trang trí như là các trường đại học, các chung cư lắp ghép tấm lớn…) Ở miền Nam Việt Nam, thời kỳ những năm 50, 60 (thế kỷ 20) các kiến trúc sư thế hệ thứ hai đã theo đựơc tư tưởng của thế hệ thứ nhất thông qua việc sử dụng tối đa nguyên tắc thiết kế khí hậu. Những công trình hiện đại như Dinh độc lập, đại sứ quán Mỹ, khu nhà ngân hàng cao tầng trên đường Nguyễn Huệ, đại học Y đều có chung một ngôn ngữ của phong cách Kiến trúc nhiệt đới hoá nổi tiếng cả Đông Nam Á thời đó, tạo nên tính bản địa cao của Kiến trúc hiện đại Việt Nam Những vấn đề đang phải đối mặt.Từ thời kinh tế thị trường năm 1985 đến nay kiên trúc Việt Nam đổi thay mạnh mẽ. Đô thị hoá rộng khắp và các dự án mọc lên như nấm (sau 1996). Các loại hình kiến trúc của thời kỳ phát triển này là nhà chia lô, khách sạn, văn phòng cho thuê, khu công nghiệp, chế xuất tập trung và các khu đô thị mới cao tầng. Nhưng về phong cách và tính thẩm mỹ, thậm chí về công năng lại tụt hậu đáng kể so với thời kỳ trước. Ở các đô thị lớn, do hệ quả của dự án, thành phố đã bị xé lẻ thành nhiều mảnh riêng riêng biệt, ngôn ngữ kiến trúc vụn vặt chắp vá, tính tổng thể xưa kia vốn là nền tảng của vẻ đẹp đô thị nay bị phá vỡ, làm tổn hại nặng nề đến bộ mặt thành phố. Có thể nói “ thành phố của dự án” tương đồng với thuật ngữ “thành phố bị phá vỡ cấu trúc” đang đại diện cho kiến trúc đô thị thời mở cửa.Hệ quả của sự “bơ vơ” về tư tưởng của kiến trúc hiện nay đang thể hiện rất rõ trong sáng tác và đào tạo kiến trúc sư cả nước. Không phủ nhận vẫn có những tác phẩm và đồ án sinh viên xuất sắc…, song nhìn chung thể hiện sự hẫng hụt trong học thuật và lý luận của kiến trúc. Kiến trúc thời bao cấp không còn đáp ứng được xã hội. Kiến trúc mới chưa kịp ổn định thì gặp phải làn sóng dự án đầu tư vì mục đích thương mại, vùi lấp các mảng sáng để lại nhiều khoảng trống và miền tối trong sáng tác.Xem xét lại kinh nghiệm các nước đang phát triển đã trải qua thời kỳ tương tự cho thấy những vấn đề nảy sinh từ quá trình hiện đại hoá nhanh chóng đã thấy rõ qua nhưng ví dụ về kiến trúc Nhật Bản và Mỹ Latin ở đầu thế kỷ 20, trong những thập kỷ tiếp theo sau Chiến Tranh Thế Giới lần 2 rất nhiều vùng khác trên thế giới, đặc biệt là ở Châu Phi, và Trung và Viễn Đông cũng bị ảnh hưởng nặng nề bởi quá trình này. Ở đây phải lưu ý rằng đôi khi chủ nghĩa hiện đại được chào đón như là một công cụ có ích để chuyển biến xã hội ( như là ở Ấn Độ chẳng hạn). Nhưng đôi khi nó chỉ đơn giản là một phần trong dự án đầu tư mang tính quốc tế- trong trường hợp này, sự xuất hiện của nó thường được gắn với những công việc kính doanh quốc tế. Trong trường hợp công trình như vậy thường thô thiển và thiếu đi sự nhạy cảm của truyền thống , giá trị văn hoá và khí hậu địa phương. Thậm chí nếu ở đó có những kiến trúc sư say mê tái thể hiện những truyền thống địa phương, thì họ cũng sẽ gặp khó khăn trong việc tìm ra tính bản địa để thích ứng với những chức năng hiện đại. Điều này cũng đang xảy ra ở Việt Nam hiện nay.- Xung đột giữa cái mới và cái cũ luôn là một dạng khủng hoảng của quá trình công nghiệp hoá. Nhưng có ít nhất hai sự khác nhau cơ bản; trường hợp thứ nhất những quốc gia “tiến tiến” tự tạo ra cuôc cách mạng công nghiệp (industrial revolution); đã trải qua gần một thế kỷ để điều chỉnh những thay đổi có ảnh hưởng sâu rộng về mặt văn hoá và xã hội đi kèm với nó. Trường hợp thứ hai là các nước thế giới thứ 3 phát triển nhanh chóng trong thập kỷ 60s,70s và 80s (ví dụ như Iran và Nigeria, Hàn quốc, Malaysia…) với những công cụ có nguồn gốc kỹ thuật, vật liệu từ bên ngoài (trong đó có Kiến trúc). Không có gì ngạc nhiên rằng sự đảo lộn giữa cái mới và cũ, đô thị và nông thôn về mặt văn hoá xã hội có lẽ cũng xuất hiện cùng thời điểm này.- Người ta nhận thấy thời kỳ này những tầng lớp mới phất dường như muốn tách bản thân họ ra khỏi những giá trị lịch sử của quê hương họ để chạy theo cái gọi là “sự tự do tiêu dùng” của Phương Tây. Họ trở nên ham muốn những hình ảnh hào nhoáng, chú trọng vào sự phô trương và loè loẹt để có thể khẳng định vị thế riêng của mình. Trong khi các công trình Kiến trúc trông có vẻ bề ngoài hiện đại (không phải là kiến trúc hiện đại đích thực) còn đang được xem xét ở Phương Tây thì chúng đã trở nên thịnh hành ở thế giới thứ ba. Mỉa mai thay quá nhiều quốc gia vừa mới được giải phóng khỏi sự cai trị thuộc địa lại nhanh chóng bị thuyết phục sử dụng lại những dạng thức kiến trúc Phương Tây tầm thường đã lạc hậu ngay ở chính quốc, như trường hợp hội chứng Kiến trúc Pháp cổ ở Việt Nam chẳng hạn.- Thiết kế hiện đại mang tính quốc tế rẻ tiền với những tiêu chuẩn sáo rỗng- thường có nhứng tấm kính phẳng lớn, thịnh hành ở các nước nghèo thực chất là những ban công hình bầu dục, sảnh được chạy điều hoà với những cửa sổ kính mầu, những khung bê tông màu trắng.v.v… đang hút nguồn tài chính xây dựng của các quốc gia này, Le Corbusier đã đúng khi ông đưa ra ý kiến rằng máy móc đã gây ra một cuộc cách mạng tự thân của nó và cuộc cách mạng này thì đã vượt qua cả ý thức hệ xã hội. Kiến trúc hiện đại đang cố gắng giải quyết vấn đề của mình ở Phương Tây thì giờ đây đang gây ảnh hưởng ở những nơi đang phải.Vấn đề này có thể lý giải tại sao Việt Nam chưa thể có Kiến trúc riêng của mình như thời kỳ trước trong lịch sử. - Con đường để thoát khỏi bế tắc này là cố gắng kết hợp những giá trị bản địa và giá trị du nhập. Tuy nhiên phải tránh “Chủ nghĩa Bản Địa rởm” – với sự gắn kết một vài môtyt mang tính lịch sử bề nổi của nó. Có lẽ sự hợp lý hơn cả là cần tìm kiếm “chủ nghĩa hiện đại khu vực” (local modernism) đã bắt đầu ở một vài nước vào thập kỷ 30 và ở Việt Nam thông qua phong cách Đông Dương vào thời kỳ nay. Xu hướng này tiếp diễn dưới những hình thức khác vào những thập kỷ 40-50 trên thế giới, ở miền Nam Việt Nam những năm 60,70. Đây là nỗ lực nhằm rút những kinh nghịêm truyền thống địa phương và hoà trộn chúng với ngôn ngữ kiến trúc hiện đại có chọn lọc và kiểm chứng thông qua sự diễn giải Kiến trúc. Con đường tìm kiếm sự biểu đạt để thích ứng địa phương thành một hình thức hiện đại phù hợp với những điều kiện xã hội đang thay đổi sang công nghiệp hoá là một hướng đi hợp lý. Tuy nhiên không có một lối ra nào có thể đảm bảo thành công khi những người chưa đạt độ chín về chuyên môn đang nắm các cơ hội hành nghề gây nguy cơ tạo ra các kiến trúc không hài hoà giữa các biểu hiện truyền thống và hiện đại như trường hợp ở Việt Nam của chúng ta hiện nay.- Sự thông thương giữa những quốc gia đã công nghiệp hoá và đang công nghiệp hoá cũng đã có những sự xung đột về những cách thức thiết kế và xây dựng. Kiến trúc hiện đại cho rằng có một sự phân chia trong lao động giữa các kiến trúc sư, nhà sản xuất, kỹ sư và những người thợ xây dựng, nhưng ở nhiều nước “kém phát triển” có ít mức độ phân chia hơn Kiến trúc đắt tiền nhập khẩu, được sản xuất hàng loạt nhưng hoàn toàn không tính đến một chút kinh nghiệm và thực tế địa phương về xây dựng và lao động đây là van đề lớn. Kết quả các Kiến trúc hiện đại ở đây mâu thuẫn với những truyền thống thủ công lâu đời hàng thê kỷ trong việc xử lý kỹ thuật và vật liệu địa phương. Tính hợp lý thực tế của phong cách địa phương bị hạ thấp, và những chi tiết và những trực giác tinh tế của người thợ thủ công đã bị thay thế bởi những thành phần xây dựng mang tính công nghiệp xấu xí, hàng loạt và vô cảm. Đây cũng là nguyên nhân dẫn đến bộ mặt kiến trúc tạp nham hiện nay.Chúng ta có thể viện dẫn câu của Hanssan Fathy một kiến trúc sư khởi nguồn của xu hướng tìm tính địa phương trong Kiến trúc hiện đại : “Hiện đại không bắt buộc có nghĩa là sự xáo trộn, và sự thay đổi thị không phải luôn luôn để trở nên tốt hơn…Truyền thống thì không có nghĩa là lạc hậu và cũng không phải là sự đồng nghĩa với sự không phát triển … truyền thống là sự tương đồng mang tính xã hội của thói quen con người, và trong nghệ thuật nó có hiệu quả tương tự như giải phóng người nghệ sĩ khỏi những ảnh hưởng và những quyết định không cần thiết, để anh ta có thể tập trung toàn bộ cho những quyết định quan trong nhất trong tác phẩm”.Phần lớn các trào lưu kiến trúc đều là sản phẩm của xã hội. Những giá trị tôn giáo, khí hậu, công nghệ, và các cấu trúc chính trị xã hội quyết định yêu cầu và phong cách của Kiến trúc. Ngày nay với việc đi lại bằng máy bay, vơi những phương tiện thông tin liên lục địa, phim ảnh, các cấu trúc kinh tế toàn cầu và giao lưu văn hoá, thế giới trở nên nhỏ bé hơn và rất nhiều ảnh hưởng qui định phong cách mang tính quốc tế dựa trên công nghệ và kinh tế học… Nhưng ngay cả khi chấp nhận Phong Cánh Quốc Tế thì công nghệ và nhân tố kích thích từ bên ngoài, không nên thắng thế các nhân tố truyền thống. Các qui tắc mới đúng đắn trong thực tế Kiến trúc hiện đại là sự tìm kiếm tính địa phương, phù hợp với người dân và địa điểmKiến trúc sư – con người chủ thể với hoạt động sáng tạo là khâu then chốt tạo nên chất lượng Kiến trúc.Trở lại thực tế Việt Nam, chính sách mở cửa tạo điều kiện phát triển kinh tế và phồn vinh của đất nươc. Trong đó đáng kể nhất là sự giải phóng các động lực phát triển đô thị mà người ta thường gọi là trào lưu đô thị hoá. Chắc không ai hình dung ra sự mở rộng đến thế phạm vi các thành phố, thị xã và các dự án đô thị ở nước ta trong 10 năm qua. Đội ngũ kiến trúc sư nhờ vậy cũng trưởng thành nhanh chóng và đã đáp ứng đựơc nhu cầu thị trường thiết kế Quy hoạch - Kiến trúc.Trong thời kỳ mở của với các điều kiện phát triển đô thị như vậy lẽ ra bộ mặt Kiến trúc của Việt Nam phải có sự đổi mới cơ bản, Kiến trúc đương thời phải có những khu phố, công trình vượt trội, đánh dấu thời kỳ trưởng thành của Đô thị hiện đại, xứng với đồng tiền bỏ ra của nhân dân. Ngược lại với qui luật biện chứng thống nhất giữa điều kiện vật chất và tinh thần của xã hội dô thị Kiến trúc lại thiếu những tác phẩm lớn thiếu sự tác động của yếu tố con người- kiến trúc sư và chủ thể sáng tác trong các tác phẩm.Trong các giai đoạn trươc, nền kinh tế suy giảm vị chiến tranh và bao cấp, phương tiện vật chất cho Kiến trúc rất thơ sơ, lạc hậu nhưng các giá trị tinh thần vẫn được duy trì trong các sáng tác (Các giải thưởng quốc tế có uy tín mang đậm tính nhân văn của người Việt – làng nổi, làng sinh thái, giữ gìn phố cổ Hà Nội …) Trong cuốn sách “Từ hiện đại đến truyền thống” rất nổi tiếng của GS. Trần Đình Hượu đã chỉ ra nhiều yếu tố quyết định bản chất của dân tộc - hiện đại trong quá trình hiện đại hoá. Trong đó yếu tố gốc để xây dựng con người chủ thể của quá trình đó là xã hội hoá. May mắn thay giới Kiến trúc gần như đi đầu trong việc xã hội hoá các nghành nghề chuyên môn ở Việt Nam. Đáng lẽ điều này phải trở thành điểm mạnh để đạt đến các tác phẩm có thể làm nên thế hệ thứ 3, thứ 4 sáng tạo Kiến trúc.Cũng thử nhìn nhận vài nét về con người sáng tác Kiến trúc hiện nay tại Việt Nam:Việc hành nghề Kiến trúc “được” coi là một dạng dịch vụ trong cơ chế thị trường nên các tổ chức tư van thiết kế trở thành đon vị kinh doanh dịch vụ, khiến các kiến trúc sư trước hết phải lo hiệu quả kinh tế và chịu sức ép rất lớn về vật chất, đẩy nhiệm vụ sáng tác xuống thứ yếu. Hơn nữa, người kiến trúc sư không có cơ hội và điều kiện để bảo vệ thành quả lao động sáng tạo của mình. Sức ép về tiến độ thời gian cộng với sự hạn chế về nhân lực trong mỗi tổ chức thiết kế làm cho người thiết kế ít có điều kiện được làm việc toàn vẹn như ý muốn.- Hoạt động tư vấn thiết kế đã chịu sự khống chế về quản lý nhà nước (bởi Luật xây dựng, Tiêu chuẩn & Quy phạm xây dựng, Điều lệ Quản lý xây dựng cơ bản,…) còn bị ràng buộc bởi nhiều cơ quan quản lý (vốn đầu tư, thẩm định & cấp phép, quy hoạch – Kiến trúc, địa chính, môi trường ,…) Công tác quản lý xây dựng cơ bản được tăng cường nhưng lại tạo nhiều phiền phức cho công tác thiết kế. Trình tự phê duyệt một dự án phải qua nhiều cấp, nhiều thủ tục, nhưng không thực sự hiệu quả, chẳng những không phát huy được sáng tạo nghệ thuật mà còn tạo ra những khuôn mẫu máy móc mà chất lượng chỉ đạt mức trung bình.- Người kiến trúc sư thiết kế còn bị ràng buộc quá nhiều trách nhiệm (ngoài phạm vi chuyên môn), bị lệ thuộc quá nhiều vào chủ đầu tư và các cơ quan quản lý (về thủ tục và tài chính). Vai trò chủ thể của người kiến trúc sư lại bị xem nhẹ, lao động sáng tạo của kiến trúc sư chưa được đánh giá đúng mức: đơn giá thiết kế quá thấp ( chỉ bằng 1/3-1/4 của nước ngoài), mức chi phí thực tế còn thấp hơn nữa. Vai trò phản biện xã hội của Hội kiến trúc sư và tiếng nói chuyên môn của giới kiến trúc sư nói chung chưa được coi trọng khiến cho kiến trúc sư không có điều kiện phát triển nhân cách độc lập – là phẩm chất hàng đầu của con người chủ thể trong sáng tạo. Có lẽ đây là nguyên nhân chính có thể giải thích phần nào sự đáng buồn của bộ mặt Kiến trúc đô thị của Việt Nam hôm nay.

Không có nhận xét nào: